Tuesday, December 6, 2016

Bao Giờ Biết Tương Tư - Phạm Duy và Ngọc Chánh

“Ngày nào cho tôi biết,
Biết yêu em rồi, tôi biết tương tư…”
Sinh tại Sài Gòn, từ năm 6 tuổi, Ngọc Chánh đã học đàn guitar với một người bạn có ngón đàn Flamenco điêu luyện rồi học thêm với một nhạc sĩ người Philippines. Năm 1960, Ngọc Chánh bắt đầu con đường âm nhạc với cây đàn dương cầm cùng ban nhạc chơi cho một vũ trường ở hồ tắm Cộng Hòa.
Năm1962, ông về chơi cho vũ trường Melody, vũ trường Lai Yun và về làm trưởng ban nhạc vũ trường Mỹ Phụng ở bến Bạch Đằng với Xuân Mỹ (saxo), Hoàng Liêm (guitar) và một nhạc công đánh trống gốc Hoa. Năm 1964, ông về làm trưởng ban nhạc của vũ trường Eden Rock trên đường Tự Do. Trong thời gian này, ông thành lập ban nhạc Shotguns gồm những người bạn sinh hoạt văn nghệ trong Biệt đoàn Văn nghệ gồm Pat Lâm (ca sĩ), Hoàng Liêm (guitar), Elvis Phương (ca sĩ), Đức Hiếu ( trống), Duy Khiêm (bass) và chính ông (keyboard) để chơi nhạc ngoại quốc cho các câu lạc bộ của quân đội Mỹ.
Năm 1969, Ngọc Chánh thành lập Trung tâm băng nhạc Shotguns, thu âm ở một phòng thu trên đường Bùi Hữu Nghĩa. Vì cộng tác chặt chẽ với nhạc sĩ Phạm Duy nên Ngọc Chánh đã nhờ Phạm Duy đặt lời cho bản nhạc “Bao giờ biết tương tư” (năm 1972) ông đã viết cho phim “Điệu ru nước mắt” dựa theo tác phẩm của nhà văn Duyên Anh. Ca sĩ Anh Khoa đã hát rất thành công bản nhạc này đúng ý ông nhất.
Nhạc sĩ Ngọc Chánh còn viết bản nhạc “Vết thù trên lưng ngựa hoang” cho bộ phim cùng tên của đạo diễn Lê Hoàng Hoa. Lúc đầu, ông định nhờ nhà văn Duyên Anh viết lời, nhưng sau đó đã để cho Phạm Duy viết lời. Duyên văn nghệ giữa Ngọc Chánh và nhạc sĩ Phạm Duy còn mang lại cho nền tân nhạc Việt Nam một bài hát nữa là “Tuổi biết buồn” cũng do Phạm Duy đặt lời.
Ca khúc “Bao giờ biết tương tư” trong phim “Điệu ru nước mắt” là lời tâm tình của một chàng trai biết thế nào là nỗi sầu tương tư khi tình yêu đến. Mãi đến khi đã thật sự yêu nàng, chàng mới biết thế nào là nỗi nhớ da diết mà người ta thường gọi là nỗi tương tư của một người phải xa cách người yêu để từng ngày qua là một ngày mong chờ được nhìn thấy bóng dáng của nàng.
Tâm hồn chàng đã trống vắng như một tờ giấy trắng tinh khôi chỉ mong được lấp đầy bằng những lời yêu thương, nhưng nỗi sầu muộn đã làm cho nụ cười tắt trên môi và dòng nước mắt hoen mờ đôi mi. Một ngày kia, tình yêu đã trở lại, tà áo và đôi bàn tay thân thuộc của nàng đã làm vơi hết nỗi sầu tương tư, nhưng tình yêu tha thiết trong tâm tưởng của chàng không thể nào thốt lên thành lời. Thiên đường mở ra trước mắt chàng là cõi tình với tình yêu đầy sức cám dỗ như trái táo trong Vườn địa đàng thuở xưa đã mang lại niềm hạnh phúc tuyệt vời pha lẫn đắng cay, và chàng vẫn bước vào dù biết rằng ở cuối con đường, tình yêu chỉ là một giấc mộng đẹp sẽ chóng tàn.
Bao Giờ Biết Tương Tư
(Tác giả: Phạm Duy và Ngọc Chánh)
Ngày nào cho tôi biết, / Biết yêu em rồi tôi biết tương tư / Ngày nào biết mong chờ, / Biết rộn rã buồn vui đợi em dưới mưa…
Ôi biết đem tin này, / Vắng như lòng giấy, tình yêu lấp đầy / Rồi biết quên câu cười, / Biết cho đôi dòng lệ rơi.
Tình yêu đã trở lại, / Đôi mắt đêm ngày vơi hết đọa đầy / Tà áo em phơi bầy, / Ngón tay em dài, tiếng yêu không lời.
Ngày nào lòng tôi đã / Biết vui biết buồn, ôm mối tương tư / Ngày nào cánh Thiên Đường / Đã mở hé tình yêu là trái táo thơm / Tôi ghé răng cắn vào / Miệng môi ngọt đắng, tình yêu cuối đường / Là trối trăn cuối cùng, / Giấc mơ não nùng vội tan.


BAO GIỜ BIẾT TƯƠNG TƯ - Ngọc Lan

 


Bao Giờ Biết Tương Tư - Khánh Hà

 


Bao Giờ Biết Tương Tư - Anh Khoa

 


 BAO GIỜ BIẾT TƯƠNG TƯ - Trần Thái Hoà

 



Saturday, December 3, 2016

BAO NĂM TÌNH LẬN ĐẬN - NGUYỄN TẤT NHIÊN



BAO NĂM TÌNH LẬN ĐẬN

(Bài phỏng vấn của tuần báo Tuổi Ngọc trên số 141 phát hành ngày 5-8-1974 khi anh là sinh viên trường Luật do Trần Hoài Thư sưu tầm từ thư viện đại học Cornell, được trích lại từ tạp chí Thư Quán Bản Thảo số 45 tháng 1-2011.)
Tuổi Ngọc: Bạn làm thơ nhiều ?

N.T.N: Thưa, ít. Bởi tôi rất quí chữ nghĩa, nên lúc nào cũng tự khó khăn với chính mình. Thứ nữa, tôi rất sợ làm độc giả thất vọng hay nói cách khác, tôi rất sợ bị chê !
T.N: Có bài thơ nào bạn cho là ưng ý nhất ?
N.T.N: Thật tình mà nói, bài nào vừa viết xong tôi cũng ngỡ là ưng ý nhất, chỉ sau thời gian thấy chán nhiều hay chán ít, thế thôi. Tuy nhiên, tôi có yêu một bài thơ làm hồi năm 1970, nhan đề Linh Mục,được anh Nguyễn Đức Quang phổ nhạc lần đầu tiên. Bài thơ ấy tôi muốn ví cái hiền lành cái thánh thiện của mình năm 18 tuổi như một vị linh mục. Mà, thi sĩ là một hình thức “linh mục” đi rao giảng lời tình.
T.N: Những bài thơ đã phổ nhạc có phải là những bài thơ bạn ưng ý ?
N.T.N: Thưa, không. Như đã nói, tôi chi yêu một bài thơ cũ, Linh Mục. Thuở ấy, tôi thiệt thà đôn hậu lắm. Thuở ấy nhà tu sáng chói trong tôi. Thuở ấy…
T.N: Thuở ấy, có phải bạn sắp nhắc tới tên một người con gái ?
N.T.N: Vâng, thuở ấy, tôi yêu người con gái tên Duyên, ngồi cùng lớp. Tình yêu học trò thời trung học tôi trong sạch, ngu ngơ, dễ thương quá. Bây giờ, nghĩ lại, tiếc hoài. Cũng nên mở dấu ngoặc nơi đây. Duyên sắp có chồng !
T.N:Trường hợp nào thơ Nguyễn Tất Nhiên gặp Phạm Duy ?
N.T.N: Tình cờ, khá tình cờ. Hãy xem là “duyên văn nghệ” giữa một già một trẻ.
T.N: Nguyễn Tất Nhiên có in một tập thơ ?
N.T.N: Vâng, tập Thiên Tai, năm 1970, ngồi lớp 12B. Tôi nhớ rằng mình đã bỏ học gần trọn năm với tập thơ này, chỉ vì Duyên. Tập thơ vừa in xong thì bão lụt miền Trung ầm ầm, quả là Thiên Tai ! Nhân đây, tôi muốn nhắc đến hai người ơn. Anh Đinh Cường đã đem tên Đinh Cường của mình ký hẳn hoi lên bìa “chùa” vẽ cho thằng con nít tôi, hồi đó. Cha Lê Hoàng Yến, giám đốc trường trung học Khiết Tâm – Biên Hòa - đã tận tình giúp đỡ, thương mến tôi, trong khi, chính những thầy tôi lại lơ là, khi dể.
T.N: Tại sao tập thơ tình lại có nhan Thiên Tai ?
N.T.N: Người tình là Thiên Tai. Ngày xưa tôi nghĩ vậy !
T.N: Và dự định về một tập thơ kế tiếp ?
N,T.N: Đó là chuyện năm tới. Tôi đang nghĩ tới một tập mới với tựa Thơ Nguyễn Tất Nhiên.
T.N: Bạn đã gặp may mắn hay trở ngại nào ở tập thơ thứ nhất ?
N.T.N: Như cái nhan đề của nó vậy. Và còn ảnh hưởng về sau này. Cũng nhân đây, tôi muốn ngỏ lời cám ơn các bạn nhỏ của tôi ở Ngô Quyền, Biên Hòa. Đã tiếp tay giúp tôi trong những sinh hoạt văn nghệ. Và cũng là một lời xin lỗi. Mong các bạn nhỏ hiểu giùm, đợi một ngày gần đây.
T.N: Nguyễn Tất Nhiên có viết văn ? Dự tính của bạn ở ngòi bút viết văn này ?
N.T.N: Vâng, tôi có viết văn, nhưng chưa tự tin lắm nơi ngòi bút lúc này. Dự tính ư ? Phải nói là ý muốn thì đúng hơn ! Tôi muốn trải hết lòng mình, đời mình ra giấy trắng chữ in. Tôi muốn thấy những quyển truyện đời tôi được tiểu thuyết hóa trưng bày đầy các nhà sách, mà đọc giả chỉ cần khen: “văn thằng ấy viết dễ thương quá” đủ rồi.
Trong tập truyện sắp in, tôi viết ở trang đầu: “ Tôi viết văn vì, thơ chưa nói hết. Nếu có sự lựa chọn giữa tác phẩm và hạnh phúc, tôi sẽ là kẻ vói tay về phía hạnh phúc, nhưng hạnh phúc mãi tan tành nên tác phẩm rơi rớt lại trần gian!”
T.N: Bạn cho bạn ngọc biết qua về đời sống riêng của bạn một chút nếu tiện, chẳng hạn như sinh hoạt chính hàng ngày ?
N.T.N: Học Luật. Cô đơn. Túng thiếu. Lang thang. Khổ tâm. Sinh hoạt chính hàng ngày: buồn bã và tìm cách đùa bỡn trên nỗi buồn của mình. Lúc gần đây, có thêm một đam mê mới: Kịch Nghệ. Anh Lê Cung Bắc là người khuyến khích và hướng dẫn tôi trên địa hạt này.
T.N: Đọc Tuổi Ngọc. bạn thấy cần đóng góp một ý kiến gì chăng?
N.T.N: Đã có hàng khối ý kiến của bạn ngọc rồi. Nói năng chi cũng thừa !
T.N: Cuối cùng. Nguyễn Tất Nhiên, bạn còn muốn nói thêm gì chăng?
N.T.N: Có lẽ, nên thôi. Bởi tôi sắp sửa đề cập tới nàng con gái khác, trong bài “Hai năm tình lận đận”. Nàng con gái khác nữa. trong bài “Cô Bắc Kỳ nho nhỏ”…
Trong khi, tôi muốn lúc nào tôi cũng một tên Duyên !






HAI NĂM TÌNH LẬN ĐẬN

1.
hai năm tình lận đận
hai đứa cùng xanh xao
mùa đông, hai đứa lạnh
hơi thở dài như nhau (?)

hai năm tình lận đận
hai đứa cùng hư hao
(em không còn thắt bính
nuôi dưỡng thời ngây thơ
anh không còn lýnh quýnh
giữa sân trường trao thư!)

hai năm tình lận đận
hai đứa đành xa nhau
em vẫn còn mắt liếc
anh vẫn còn nôn nao
ngoài đường em bước chậm
trong quán chiều anh ngóng cổ cao…

2.
em bây giờ, có lẽ
toan tính chuyện lọc lừa
anh bây giờ, có lẽ
xin làm người-tình-thua
chuông nhà thờ đổ mệt
tượng Chúa gầy hơn xưa
Chúa bây giờ, có lẽ
rơi xuống trần gian, mưa
(dù sao thì Chúa cũng
một thời làm trai tơ
dù sao thì Chúa cũng
là đàn ông… dại khờ!)

anh bây giờ, có lẽ
thiết tha hơn tín đồ
nguyện làm cây thánh giá
trên chót đỉnh nhà thờ
cô đơn nhìn bụi bặm
làm phân bón rêu xanh
(dù sao cây thánh giá
cũng được người nhân danh!)

3.
hai năm tình lận đận
em đã già hơn xưa!...

(1972)
(trích tập Thơ Nguyễn Tất Nhiên)

Friday, November 25, 2016

Chuyện về người phụ nữ đặc biệt nhất trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

Cho đến bây giờ, sự ra đi của mạ, sự ra đi của anh vẫn là hai nỗi đau khủng khiếp không gì bù lấp nổi cho tất cả anh chị em chúng tôi. 

chuyen_ve_nguoi_phu_nu_dac_biet_nhat_trong_doi_nhac_si_trinh_cong_son_48805_1-copy-3_resize 
Ngày mạ mất, anh tôi viết “Đường xa vạn dặm”.

Ngày mở cửa mạ, là 49 ngày theo phong tục của Việt Nam, anh tôi mang theo bản nhạc đó bên người, cầm guitar ngồi hát bên mộ mạ. Hát xong rồi đốt. “Mẹ bỏ tôi đi đường xa hoạn nạn/ Giấc ngủ chưa tròn mẹ bỏ tôi đi/… Mẹ bỏ con đi đường xa vạn dặm”. Cho đến bây giờ, sự ra đi của mạ, sự ra đi của anh vẫn là hai nỗi đau khủng khiếp không gì bù lấp nổi”.

1. Mạ tôi – bà Lê Thị Quỳnh vốn là hoa khôi của trường Jeanne D’Arc (Huế). Hồi đi học, mạ được rất nhiều người để ý nhưng phải lòng ba tôi. Ngày đó, ba viết thư tình cho mạ nhiều lắm. Đến nỗi, ba mất mấy chục năm sau, thư ba viết mạ vẫn còn giữ nguyên y. Khi chúng tôi lớn lên, lâu lâu vẫn thấy mạ mang hộp thư ba viết ra phơi nắng cho đỡ ẩm mốc.

Mặc dù người không còn nhưng quần áo, giày dép của ba, mấy chục năm sau đó vẫn như vừa mới đây. Mỗi tuần, mạ đều mang giày ba ra đánh xi và hong nắng. Lúc dọn bàn ăn, bao giờ, mạ cũng để ra một cái ghế trống và một phần ăn trên bàn. Và thể nào, cũng rót thêm một ly rượu chát mời ba về.
Ba không may bị tai nạn rồi mất. Khi đó ông mới 39 tuổi. Mạ tôi ở tuổi 34, trở thành góa phụ một mình với 8 người con nhỏ. Anh Sơn lúc đó vừa mới 16 tuổi. Mạ tôi và anh tôi, hai con người nhỏ bé, yếu ớt nhất của cuộc đời.

Thời ba vào Sài Gòn, có quen ông Đồng Khánh – chủ tiệm xe lớn nhất Chợ Lớn thời đó. Ba bắt đầu mở tiệm kinh doanh xe đạp, ở Sài Gòn đặt tên là Quỳnh Sơn (tên mạ và tên anh Sơn ghép lại), ở Huế là Thanh Tâm (tên ba và chị gái tôi ghép lại).

Sau khi ba mất đi, để lại một sản nghiệp lớn. Tuy nhiên, anh Sơn và anh Hà (anh thứ 2) không may bị thương rồi đổ bệnh trong một lần tập Judo với nhau, mạ phải mời bác sỹ người Pháp chữa bệnh cho hai anh.

Đồng thời, mạ cũng phải đi đi về về giữa Huế và Sài Gòn gặp ông Đồng Khánh để bàn chuyện làm ăn, tiếp tục duy trì tiệm xe. Ngoài xe đạp, cửa hàng nhập thêm xe gắn máy, ví dụ như xe Gobel, xe Velo Solex…

Hình ảnh gia đình. Ảnh: Tư liệu
Hình ảnh gia đình. Ảnh: Tư liệu
Một mình mạ chạy xuôi chạy ngược lo cho đàn con, vừa phải lo kiếm tiền. Nhà tôi lúc đó khá giả lắm, về Huế hỏi tiệm xe Thanh Tâm hầu như ai cũng biết. Mặc dầu bận thế nhưng cuối tuần, lúc nào, mạ cũng thu xếp công việc để dắt các con đi chùa và ra thăm mộ ba. Rất đều đặn, thành thói quen. Mạ tụng kinh mỗi ngày. Ngồi bên cạnh lúc nào cũng có anh Sơn.

Có lẽ từ đó, ngay từ nhỏ, mấy anh em trong nhà đã thấm đạo Phật rồi. Mạ tôi lúc nào cũng đem kinh Phật ra dạy dỗ con cái. Mạ nói sống hay rồi thì phải sống hay hơn. Sống đẹp rồi thì phải sống đẹp hơn.

Anh tôi từ nhỏ tới lớn thường học trường Tây. Lúc đó, giấy tờ cũng đã xong xuôi để chuẩn bị đi Pháp học. Nhưng ba mất đột ngột nên anh đã quyết đinh ở lại để giúp mẹ, dạy dỗ các em. Anh trở thành người bạn, người đồng hành bên mạ.

Mạ đội 8 người con trên đầu đi qua bao nhiêu bão tố của cuộc đời. Chúng tôi có ngày hôm nay cũng là do công mạ dạy dỗ. Mạ là tấm gương cho con cái noi theo. Mạ làm tất cả mọi việc để nuôi con và vẫn có thì giờ làm từ thiện. Mạ luôn dạy con lộc bất tận hưởng, luôn chia sẻ với người nghèo.

Chúng tôi còn nhớ như in, ngày mạ mất, đại diện của 67 ngôi chùa trên toàn lãnh thổ Việt Nam đến niêm hương. Lúc đó, các anh chị em rất ngạc nhiên hỏi sao biết mạ con mất. Họ bảo rằng: từ năm 1975 tới giờ, mạ các con là người gửi gạo hằng tháng cho các chùa.

2. Mạ là một người văn hay chữ tốt. Bà làm thơ hay và hát cũng hay nữa. Cái tiếc nhất là qua bao nhiêu biến cố của chiến tranh, từ năm 1968 đến mùa hè đỏ lửa 1972, gia đình phải di tản trong tinh thần hoảng loạn, ra đi tay không, chẳng mang theo được bất cứ thứ gì. Tất cả tài liệu, hình ảnh mất hết. Thật đáng tiếc.

Mặc dù không còn giữ lại được thứ gì nhưng trong trí nhớ của các con, mạ hay đọc thơ và nói về Kim Vân Kiều Truyện, nói về Truyện Kiều. Mạ bình luận hay lắm. Chúng tôi hồi đó chưa học tới Truyện Kiều nhưng đã hiểu về Truyện Kiều rất nhiều vì ngày nào cũng được tiếp xúc qua mạ.

Chúng tôi nghĩ, để có được một người như anh Sơn, không phải tự nhiên được. Anh lớn lên trong một môi trường giáo dục văn minh thời đó, hấp thụ triết lý Đông – Tây, lại nhận được tình cảm của ba mạ, lại là người chứng kiến tất cả những thăng trầm của gia đình, của đất nước nên anh Sơn ngay từ nhỏ đã là một con người khác thường.

Mỗi lần anh viết xong một bài nhạc, người anh “khoe” đầu tiên là mạ. Lúc nào cũng thế, anh bảo, mạ ơi, Sơn mới làm được bài này, mạ nghe… Mạ là người rất tế nhị. Nghe xong, mạ nhẹ nhàng nói Sơn ơi, mạ nghĩ nếu chữ đó Sơn dùng thử chữ này thì Sơn nghĩ sao.

Bây giờ ngẫm lại, mạ thì không có gì để nói thêm được nữa. Đó là một người đàn bà đẹp, giỏi giang và suốt cả cuộc đời hi sinh cho chồng con. Khi mạ mất, mọi người từ anh Sơn xuống tới tôi, không ai nói với nhau điều gì mà ai cũng chỉ muốn đi theo mạ. Anh Sơn cũng đổ bệnh luôn từ ngày đó.

Trong 3 ngày tang lễ, 8 anh em chúng tôi từ người bình thường chỉ còn da bọc xương. Để thấy rằng, mất mát đó đã đến tận cùng. Chúng tôi nằm quanh quan tài mạ, cứ thế, cứ thế.

Sau này, khi anh Sơn mất đi, cảm giác đó lại quay về lần nữa. Trong cuộc đời này, chưa bao giờ chúng tôi nghĩ sẽ mất mạ, mất anh. Đó là 2 trụ cột, 2 chỗ dựa đầy bao dung, thành kính nhất của cuộc đời này. Khi mất đi rồi, nỗi đau khủng khiếp lắm, không ngôn từ nào diễn tả hết được.

Ba mạ và anh Sơn ai cũng nghiêm khắc trong việc dạy dỗ. Tôi nhớ mạ có lần kể, ngày xưa, trên bàn ăn, ba và mạ ngồi đầu bàn, hai bên là các con. Ba dạy các con ngồi ăn, cái tay phải để như thế nào, khi có người lớn ngồi cùng bàn, không được phép để 2 cái tay lên trên bàn ra sao, khi người lớn nhất đụng đũa vào đĩa nào thì các con mới bắt đầu được phép đụng đũa vào đĩa đó.

Mạ dạy các con ngủ dậy phải mở mùng ra xếp thẳng bỏ vào tủ, ga giường 4 góc phải thẳng. Nếu không phải giờ ngủ thì không được phép lên giường. Lí do: Chỉ được ngủ khi đúng giờ ngủ. Nếu không phải giờ ngủ, chỉ được phép ngồi trên ghế đọc sách hay làm gì thì làm, nhưng tuyệt nhiên không được leo lên giường.
Bà Lê Thị Quỳnh, người sinh thành cố nhạc sỹ Trịnh Công Sơn. Ảnh: Tư liệu gia đình
Thứ nữa, cuối tuần là ngày nghỉ học, ngủ dậy phải tắm, các anh bận áo sơ mi, bỏ vào quần tây đàng hoàng; con gái thì phải thay bộ đầm, không được mặc pyjama. Nên nhiều lúc, có người qua chơi thấy anh Sơn ăn mặc chỉnh tề, hỏi anh đi đâu vậy.

Nguyên tắc này được truyền lại đến đời con cháu chúng tôi. Mạ mất, anh Sơn trở thành “mạ” của chúng tôi. Anh dạy chúng tôi “dạ – thưa”, dạy chúng tôi làm người, sống hay, sống đẹp. Bài học ngày xưa mạ dạy, bây giờ anh tôi làm thay.

Anh Sơn là một người ai cũng biết là hiền lành, nhân ái, nghệ sỹ. Nhưng trong gia đình, anh rất nghiêm khắc đối với các em. Anh hay nói, sau nầy với các em, anh thấy rất là thương vì lúc ba mất, các em còn nhỏ nhưng anh lúc nào cũng sợ, sợ trách nhiệm nặng nề, sợ các em hư hỏng, nhất là em gái.

Anh thấy tự có lỗi nếu để điều đó xảy ra nên anh rất nghiêm khắc kỷ luật. Anh dạy em gái ăn uống, đi đứng, nói chuyện ra sao. Anh bắt chúng tôi mỗi ngày tập đi, để sách nặng trên đầu, đi thẳng theo đường ô ca-rô.

Rồi anh bảo, con gái đi hai cái chân như thế nào là rất xấu. Anh dạy con gái phải mặc áo kín. Anh Sơn ảnh hưởng mạ, ảnh hưởng ba. Dưới sự chỉ dạy của anh, chúng tôi thường có thời khóa biểu và ai cũng phải làm theo răm rắp. Cuối tuần mới được tiếp bạn 15 phút. Lúc đó khủng khiếp lắm. Nhưng giờ nhìn lại, bao nhiêu cái tế nhị, cái tốt trong cuộc sống mà chúng tôi có được ngày hôm nay là nhờ mạ, nhờ anh.

3. Đôi khi chúng tôi nghĩ, đời mình hóa ra cũng dở. Vì không làm được như lời mạ, lời anh chỉ dạy. Cũng vì mặc cảm đó in sâu vào tâm cảm của mấy anh chị em nên sự ra đi của mạ, của anh Sơn mang đến một nỗi buồn đau, một mất mát thật lớn.

Mạ tôi mất khi anh Sơn ở tuổi 50. Anh tôi viết Đường xa vạn dặm nghe thắt lòng. “Mẹ bỏ tôi đi, đường xa vạn dặm/ Mẹ bỏ con đi đường xa mịt mùng”. Ngày mở cửa mạ, là 49 ngày theo phong tục của Việt Nam, anh tôi mang theo bản nhạc đó bên người, cầm guitar ngồi hát bên mộ mạ. Hát xong rồi đốt.

Cho đến bây giờ, sự ra đi của mạ, sự ra đi của anh vẫn là hai nỗi đau khủng khiếp không gì bù lấp nổi cho tất cả anh chị em chúng tôi. Tất cả.

Sau khi mạ mất, gia đình mời thầy về tụng kinh 100 ngày. Tụng đến ngày thứ 100, có một chuyện lạ đến giờ ai cũng nhớ. Thường thì đúng 6 giờ sáng, thầy mới bắt đầu tụng kinh.
Thế nhưng hôm đó, chưa đến giờ, các anh chị em trong nhà đều nghe thấy tiếng gõ mõ, tưởng là ngủ quên, quá giờ tụng kinh. Lúc chạy xuống thì không thấy ai hết, đồng hồ mới hơn 5 giờ. Lúc đó, tự nhiên nghe tiếng chuông, gõ mõ vang rất rõ ràng. Sau hỏi lại thầy, thầy giải thích trong kinh Phật có những trang đó, giờ phút đó, mạ lên trời.

Chúng tôi không tường tận một cách chính xác hết được những nội dung trong kinh Phật. Chỉ hiểu nôm na rằng, những người làm điều ác thì sau khi chết sẽ bị đày xuống địa ngục, ai làm điều tốt thì lên thiên đường. Trong kinh Phật, tiếng chuông ấy như một lời chào của mạ gửi đến các con trước khi về cõi an lành.

4. Những mảnh vụn về người đàn bà đặc biệt này được ghi lại theo lời kể của hai người em gái cố nhạc sỹ Trịnh Công Sơn là nhà thiết kế Trịnh Hoàng Diệu và ca sỹ Trịnh Vĩnh Trinh. Ngồi trò chuyện tại căn nhà lưu giữ quá nhiều kỷ niệm, nhìn đâu cũng thành kỷ niệm ấy, tôi hỏi, sống mà nhớ nhung quá, luyến lưu quá, cũng buồn quá chứ?

“Đúng là đời sống có quá nhiều kỷ niệm thì buồn. Nhưng buồn của thời trẻ khác. Buồn của những ngày bây giờ khác. Là cái buồn của người đi qua một cuộc bể dâu. Và có những cái buồn tưởng rằng không thể vực dậy nổi thì ở tuổi này rồi, mình cũng phải tự tìm lối thoát cho mình”.

Hai cô em gái của nhạc sỹ nói rằng, ông trời chia đều vui buồn cho mỗi người. Chỉ khác với nhau một điều, đó là mình nhìn về cái buồn, cái vui đó ở mức độ như thế nào và lối thoát như thế nào. 
Ngay cả những cái mình được, mình thấy được quá nhiều thì mình sướng. Người ta thấy được nhưng chưa đủ thì lại là không hạnh phúc.

Dù rằng, đó là một lần đến với nhân gian hao gầy này hay một buổi nao buồn phiền, “người đi vắng về nơi bế bồng”.
Một Thế Giới

Sunday, November 13, 2016

Monday, November 7, 2016

Sunday, November 6, 2016

Đại Hội Thụ Nhân Thế Giới 2016: Ôn Cố... Tri Tân - Thụ Nhân Nguyễn Văn Tâm (K-1)




Ngồi trên phi cơ trên đường từ Cali về Chicago người viết đang luyến tiếc sống lại những kỷ niệm và những hình ảnh đẹp với những đồng môn trong Đại Hội Thụ Nhân Thế Giới 2016 và hứa rằng khi về đến Chicago sẽ giành một thời gian rảnh viết lại những cảm tưởng về Đại Hội.

Rất vui tham dự Đại Hội Thụ Nhân (Cựu Sinh Viên Viện Đại Học Đà Lạt) Thế Giới 2016 ngày 7,8,9 tháng 10, 2016 tại Nam Cali. Vui vì gần nữa thế kỷ những đồng môn từ khắp nơi trên thế giới có dịp gặp lại nhau.

Gặp nhau lần này có nhiều thay đổi nhưng cũng mang lại biết bao nhiêu những kỷ niệm của thời còn ngồi dưới mái trường Viện Đại Học Đà Lạt trong những giảng đường như Spellman, Hôi Hữu, thự viện hay dưới những cây thông hoặt trên đồi v..v.

Một Đại Hội cho thấy nhiều kỷ niệm đa dạng trở về lại với mọi Thụ Nhân. Một Đại Hội với muôn màu sắc khoe trương của những cặp Thụ Nhân trong lứa tuổi 60, 70 trong Đêm Nhạc Thính Phòng và Gala cho thấy già mà còn “gân”, những đôi chân múa may cũng còn nhuần nhuyễn chật cả sàn nhảy. Những giọng ca vàng của thời sinh viên không thay đổi, cũng tình tứ, lãng mạn v…v

Dù tuổi đời có cao nhưng khi gặp lại thì sự trẻ trung lại trở về với mọi người qua những câu chào hỏi rất thân thiện không khách sáo của cái thời hàn sĩ như: “mày”, “tao” hay “moi”, “toi” v…v

Gặp nhau có những lúc ngỡ ngàng vì sự thay đổi của người bạn của mình thấy mặt quen quen nhưng quên mất tên. Điển hình người viết khi gặp mặt bắt tay một người bạn thấy quen với áo sơ mi hình chim cò màu rực rở như ở Hawaii trông trẻ trung nhưng không nhận ra phải coi bảng tên thì lúc đó mới ồ lên à: “Toi là Dân (Lưu Văn Dân) phải không? Thấy toi còn trẻ dù toi đang trong lứa tuổi quá Thất Thập Cổ Lai Hy”. Nhưng cũng có những gặp gỡ những người bạn khác thì nhận ra nhau ngay vì sự thay đổi không nhiều về nhan sắc.

Nhưng dù gì đi nữa thì Đại Hội cũng là một cuộc họp mặt phải nói là vô cùng ý nghĩa và vui cho mọi người có cơ hội trở lại với chính mình và với bạn mình sau gần 40 năm xa nhau. Đại Hội cũng là dịp để “Ôn Cố …. Tri Tân”.

Bắt đầu nhận diện lại những khuôn mặt thân tình từ những năm đầu của khoá học. Nào là những anh chị em sống trong Lữ Quán Thanh Niên. Nào là những anh chị em trong Đoàn Sinh Viên Công Tác Xã Hội, trưởng đoàn là Hoàng Văn Lộc (đang ở Việt Nam) cũng ở Lữ Quán Thanh Niên thường đi công tác xã hội tại các Buôn người Thượng các tỉnh lân cận như Ban Mê Thuột, Kontum, Pleiku….. Nào là nhóm Shin cùng nhau làm đề án tập thể ra trường v…v.

Gặp lại những người bạn trong cùng nhóm đang có mặt trong Đai Hội thì mọi người không quên hỏi thăm những người cùng trong nhóm nhưng không có mặt trong Đại Hội này. Điều này cho thấy tình nghĩa đồng môn còn thắm thiết như thuở nào. Đó là tinh thần “Thụ Nhân”.

Nhóm ở Lữ Quán Thanh Niên và Đoàn SV Công Tác Xã Hội (LQTN) thấy vắng mặt những bạn như Kha Tư Giáo (đã chết oai hùng trong trại cải tạo), Lý Đồng Lương, Hoàng Văn Lộc (Việt Nam), Võ Văn Rọt, Chị-em Nguyễn Thị Kim Xuyến (chết), Nguyễn Thị Kim Định, Huỳnh Trung Trực. Ban nhạc Leviathan thì không thiếu ai: Phong, Chung, Lưu, Dân.

Điểm qua nhóm 42 Võ Tánh mà người viết một thời có ở đó thì vắng mặt Trần Văn Chi, Nguyễn Thanh Nhàn, Nguyễn Tấn Bữu (Belgique), Trịnh Hiếu Kỳ…

Điểm qua nhóm Shin thì vắng mặt Sơn râu, trưởng nhóm (Việt Nam), Nhung (chết), Thuận, Chị Phạm Thị Sáng chỉ có mặt Hùng Beau và Tâm.

Còn nhiều nhóm dọc trên đường Võ Tánh như 36 VT, 75 VT và đối diện trường trung học Bùi Thị Xuân như Café T2, nhóm Sivida trong đại học xá, chổ ăn cơm tháng Ba Duế v..v. Còn một nhóm nữa đáng được chú ý đó là Đại Học Xá khu B Trần Hưng Đạo mà người viết có một thời gian ở đó. Cuộc sống của anh em tại đây gần như bụi đời trái ngược với Đại Học Xá trong khuôn viên đại học có nề nếp hơn. Nói đến đại học xá mà không nhắc đến đại học xá nữ thì có phần thiếu sót hoặc bị coi là kỳ thị. Đại Học Xá Nữ này rất hấp dẫn những anh Thụ Nhân thường la cà để gặp bạn gái, người tình của mình hoặc những Thụ Nhân “còn ế” thì lang thang kiếm đào v…v.

Đặc biệt có một Thụ Nhân từ Việt Nam qua tham dự đó là anh Vũ Trọng Thức với bà xã đã gặp lại Trần Văn Lược và người viết ba anh em nói chuyện về thể thao của Viện: đá banh và bóng bàn …. Rất nhiều anh chị em hỏi anh Thức về tình hình Thụ Nhân bên Việt Nam.

Gặp lại quý thầy Trần Long và cô và thầy Ngô Đình Long làm phải nhớ “Tam Long” nhớ đến thầy Phó Bá Long (chết). Khi hai thầy vừa an toạ thì nhiều Thụ Nhân chạy đến chào và hỏi thăm sức khoẻ trong tình nghĩa thầy trò thật thắm thiết và thân tình vẫn còn đậm đà thân thương như thuở nào.

Có một số anh chị em có nhắc đến Mai Kim Đỉnh (Tư Liệt). Không biết bây giờ đang ở Singapore hay ở Anh Quốc? Một thời người viết có những kỷ niệm với Anh ở Tổng Liên Đoàn Lao Công Việt Nam và đảng Công Nông của Trần Quốc Bữu cùng với Nguyễn Tấn Bữu và kỷ niệm trong ngày 30-4-75 trước khi bị đi học tập cải tạo.

Nhiều lắm không thể kể hết ra đây.

Những hình ảnh và những kỷ niệm đươc gợi lại cho thấy cái đa dạng của Đại Hội Thụ Nhân 2016.

Riêng tư một chút nói về Lê Bá Diệp (Đạo Dừa). Lê Bá Diệp gặp lại thì vẫn ồn ào, vui vẻ như thuở nào, thích đấu láo với bạn bè. Không một chút chần chờ Lê Bá Diệp “offer” ngay chổ ở tạm cho những đồng môn từ xa đến tham dự Đại Hội như vợ chồng Hùng râu từ San Diego, người viết từ Chicago và Lưu Văn Dân từ Pháp ở tại nhà trong thời gian Đại Hội. Còn Trần Văn Hùng thì không ngại đường xa từ San Diego đã lái xe lên tận phi trường John Wayne, Orange County đón người viết từ Chicago đến đưa về nhà một đêm dù nhà của anh Hùng còn đang bề bộn vì đang sửa lại hệ thống ống nước.

Thời gian Đại Hội cũng trùng với ngày thứ bảy nhóm anh chị em Thụ Nhân Nam Cali thường họp mặt mỗi sáng thứ bảy tại một quán café Kobe. Trong dịp này một số anh chị em thụ nhân tham dự Đại Hội cũng đến có mặt trong buổi café sáng đó. Quá đông !!! Tiệm café không còn chổ ngồi, hết cả những bình trà. Người đứng, người ngồi xôn xao nói chuyện vang dậy cả một góc tiệm và ngoài hành lang. Nhiều khuôn mặt quen thuộc có mặt. Nếp sống trẻ trung, đùa giỡn, chọc quê nhau ồn ào hiện rõ lên khuôn mặt mọi người. Thật vui!!! Sau đó thì cùng nhau kéo đến nhà hàng California restaurant trên đường Brookhurst của cô em gái của một Thụ Nhân ( K-1) là Hùng Beau để được gia chủ khoản đãi môt bữa ăn trưa ngon miệng và nhiều câu chuyện củ được nhắc lại vang dậy cả nhà hàng. Thật là vui!!!

Đó là nói về họp mặt riêng của nhóm Thụ Nhân K-1, K-2. Một dạng trong cái đa dạng của Đại Hội.

Còn những lớp khác thì cũng xôm tụ không ai thua ai. Nhưng người viết không có dịp tham dự những nơi đó cho nên không nói được gì nhiều. Tuy nhiên một Thụ Nhân đến từ Chicago cùng với người viết là chị Đỗ MinhTâm K-8 và chồng là dược sĩ Phạm Châu Nam, có nhà tại Cali có mời người viết và anh Trần Văn Hùng đang trên đường từ phi trường ghé nhà chơi trong chiều đó đang có họp một số anh chị em cùng lớp để ăn uống và tập dượt lại những bài hát để ngày hôm sau trình diễn cho họp mặt của khoá 8. Phải nói là nhóm K-8 này chuẫn bị rất chu đáo. Dù khác lớp và không có những quen biết trước nhưng khi gặp nhau tại nhà chị Tâm đúng “tần số” “Thụ Nhân” thì tình nghĩa đồng môn Thụ Nhân rộn ràng trở về với mọi người vui vẽ trò truyện một cách rất tự nhiên.

Rất cám ơn và có lời khen những anh chị em trong Ban Tổ Chức và BTC riêng cho khoá 1&2 như các anh Võ Thành Xuân, Phạm Bá Đức, Hoàng Kim Long, Phạm Bá Vượng v..v và hai MC Phan Thạnh và Lưu Văn Dân đã bỏ nhiều thời giờ và công sức “ăn cơm nhà vác ngà voi” thu xếp tổ chức một Đại Hội và Họp Mặt Khóa thật ý nghĩa này. Đủ cả những mục vui chơi giải trí như Họp mặt riêng từng khóa, Đêm Nhạc Thính Phòng, Gala, Du thuyền, du lịch Las Vegas và Tour tại Little Saigon … cho mọi người tham dự. Một tổ chức phải nói là tuyệt vời dù có những sơ sót không sao tránh khỏi.

Đại Hội chấm dứt trong sự luyến tiếc và hẹn gặp nhau lại trong Đại Hội 2018./.

Mùa Thu Chicago


https://vietbao.com/p112a260092/dai-hoi-thu-nhan-the-gioi-2016-on-co-tri-tan