"BÀI CA ĐƯA NGƯỜI MẠNG CHUNG TRONG KHI TỐNG TÁNG" CỦA HÒA THƯỢNG TRÍ HẢI – BÍCH LIÊN
Nhân dịp tưởng niệm 76 năm Hòa thượng Trí Hải – Bích Liên (1876 - 1950) viên tịch, Thư viện Huệ Quang xin giới thiệu đến quý độc giả một tư liệu đặc biệt về lịch sử nghi lễ Phật giáo Việt Nam.
Ít người biết rằng, bài văn tống táng quen thuộc được nhiều thế hệ Tăng Ni, Phật tử biết đến với các nhan đề như "𝑺ám 𝑯ồng 𝑻rần ", "𝑩ài 𝑻ống 𝑻áng " hay "𝑺ám 𝑻ống 𝑻áng ", nguyên thủy được Hòa thượng Trí Hải - Bích Liên sáng tác với nhan đề "BÀI CA ĐƯA NGƯỜI MẠNG CHUNG TRONG KHI TỐNG TÁNG.
Tác phẩm được đăng liên tiếp trên Phật học Tạp chí 𝐓𝐮̛̀ 𝐁𝐢 𝐀̂𝐦, các số 46, 47 và 48, rồi về sau được các bậc tôn túc biên tập, hiệu chỉnh và đưa vào nhiều nghi thức tống táng, kinh tụng và nghi lễ Phật giáo lưu hành rộng rãi trên cả nước. Trải qua nhiều lần san định, tên gọi và một số chi tiết của văn bản đã có những thay đổi nhất định, nhưng phần cốt lõi của tác phẩm vẫn được bảo lưu gần như nguyên vẹn.
Viết theo thể lục bát, bài ca mở đầu bằng những lời quán chiếu về tính vô thường của kiếp người. Chuỗi điệp ngữ "Khi nào... Bây giờ..." liên tục đối chiếu giữa sinh hoạt đời thường và thực tại của cái chết, khơi dậy sự tỉnh thức trước lẽ sinh diệt của cuộc đời. Từ đó, tác phẩm dẫn người nghe trở về với niềm tin nơi pháp môn niệm Phật, phát nguyện vãng sinh Tây phương Cực Lạc và hướng đến con đường giải thoát.
Điều đáng quý của văn bản này không chỉ nằm ở giá trị văn chương hay nghi lễ, mà còn phản ánh một giai đoạn phát triển của Phật giáo Việt Nam trong thế kỷ XX, khi nhiều trước tác nghi lễ được phổ biến trước hết qua báo chí Phật giáo, rồi dần trở thành những văn bản được sử dụng rộng rãi trong sinh hoạt thiền môn và cộng đồng Phật tử. Vì vậy, "𝐁𝐚̀𝐢 𝐜𝐚 đ𝐮̛𝐚 𝐧𝐠𝐮̛𝐨̛̀𝐢 𝐦𝐚̣𝐧𝐠 𝐜𝐡𝐮𝐧𝐠 𝐭𝐫𝐨𝐧𝐠 𝐤𝐡𝐢 𝐭𝐨̂́𝐧𝐠 𝐭𝐚́𝐧𝐠" không chỉ là một bài văn hộ niệm, mà còn là một tư liệu góp phần tìm hiểu lịch sử hình thành của nghi lễ Phật giáo Việt Nam hiện đại.
Nhân dịp tưởng niệm Hòa thượng Trí Hải – Bích Liên, Thư Viện Huệ Quang xin trân trọng giới thiệu lại nguyên văn văn bản này theo bản đăng trên Phật học Tạp chí 𝐓𝐮̛̀ 𝐁𝐢 𝐀̂𝐦, số 46, 47 và 48, như một dấu ấn của lịch sử báo chí Phật giáo và lịch sử văn bản nghi lễ Việt Nam.
🍃🍃🍃
Thư Khách/ Thư viện Huệ Quang
🍂🍂🍂 --- 🍂🍂🍂
BÀI CA ĐƯA NGƯỜI MẠNG CHUNG TRONG KHI TỐNG TÁNG
Cuộc hồng trần xoay vần quá ngán,
Kiếp phù sanh tụ tán mấy lăm hồi.
Người đời có biết chăng ôi!
Thân người tuy có, có rồi hoàn không.
Chiêm bao khéo khuấy lạ lùng,
Mơ màng trong một giấc nồng mà chi.
Làm cho buồn bã thế ni,
Hôm qua còn đó bữa nay đâu rồi.
Khi nào đứng đứng ngồi ngồi,
Bây giờ thiêm thiếp như chồi cây khô.
Khi nào du lịch giang hồ,
Bây giờ nhắm mắt mà vô quan tài.
Khi nào lược giắt trâm cài,
Bây giờ gởi xác ra ngoài gò hoang.
Khi nào trau ngọc chuốt vàng,
Bây giờ một nắm xương tàn lạnh tanh.
Khi nào mắt đẹp mày thanh,
Bây giờ thấy dạng thấy hình là đâu.
Khi nào lên các xuống lầu,
Bây giờ một nắm cỏ sầu xanh xanh.
Khi nào liệt liệt oanh oanh,
Bây giờ một trận tan tành gió mưa.
Khi nào ngựa lọc xe lừa,
Bây giờ mây rước trăng đưa mơ màng.
Khi nào ra trướng vào màn,
Bây giờ nhà cửa xóm làng cách xa.
Khi nào mẹ mẹ cha cha,
Bây giờ bóng núi khuất xa muôn trùng.
Khi nào vợ vợ chồng chồng,
Bây giờ trăng khuyết còn mong chi tròn.
Khi nào cháu cháu con con,
Bây giờ hai ngã nước non xa vời.
Khi nào cốt nhục vẹn mười,
Bây giờ lá héo nhành tươi vui gì.
Khi nào bạn hữu sum vầy,
Bây giờ chén rượu cuộc kỳ vắng thiu.
Cái thân như tấc bóng chiều,
Như chùm bọt nước phập phều ngoài khơi.
Xưa ông Bành Tổ sống đời,
Tám trăm tuổi thọ nay thời còn đâu.
Sang mà đến bực công hầu,
Giàu mà đến bực mấy lâu Thạch Sùng.
Nghèo mà đói khát lạnh lùng,
Khổ mà tóc cháy da phồng trần ai.
Phù du sớm tối một mai,
Giàu sang cũng thác xạc xài cũng vong.
Thông minh tài trí anh hùng,
Ngu si dại dột cũng chung một gò.
Biển trần nhiều nỗi gay go,
Mau mau nhẹ gót qua đò sông mê.
Sự đời nên chán nên chê,
Tầm nơi giải thoát mà về mới khôn.
Vong hồn ơi! Hỡi vong hồn!
Cuộc đời nay biển mai cồn tỉnh chưa?
Tỉnh rồi một giấc say sưa,
Sẽ xin niệm Phật mà đưa hồn về.
Hồn về Cực-lạc nước kia,
Cho xa hang quỉ mà lìa kiếp ma.
Nhờ ơn đức Phật Di Đà,
Phóng ra một ngọn chói lòa hào quang.
Trong khi tiếp dẫn rõ ràng,
Dắt hồn ra khỏi sáu đàng nghiệp nhân.
Quan Âm Bồ-tát vui mừng,
Tay cầm nhành liễu, tay bưng kim đài.
Với cùng Thế Chí, các ngài,
Cũng đều khuyến thỉnh bên ngai sen vàng.
Có bảo cái, có tràng phan,
Có mùi hương lạ, có đàng ngọc xây.
Có trời các cõi tri tùy,
Có đờn, có trống, rước đi một đường.
Rước về đến cảnh Tây phương,
Có ao thất bảo có hương ngũ phần.
Lưu ly có đất sáng ngần.
Ma-ni có nước trong tần chảy quanh.
Thất trân có bảy lớp thành,
Bảy hàng cây báu, bảy vành lưới châu.
Có ngân các, có kim lầu,
Có chim nói pháp nhiệm mầu dễ nghe.
Nghe rồi tỏ đạo Bồ-đề,
Bao nhiêu nghiệp chướng hồn mê, dứt liền.
Đã sanh về chín phẩm sen,
Mấy tai cũng sẩy mấy duyên cũng tròn.
Phật như thể mẹ tìm con,
Con mà gặp mẹ lại còn lo chi.
Nghi ngang đài toạ thiếu gì,
Ăn thì cơm ngọc, mặc thì áo châu.
Không ơn, không oán, không sầu,
Không già, không chết có đâu luân hồi.
Tánh xưa nay đã tỏ rồi,
Gương xưa nay đã lau chùi trần ô.
Tu hành phải đợi kiếp mô,
Nguồn tình biển ái đã khô bao giờ.
Lựa là phải ngộ thiền cơ,
Mà đèn trí huệ dễ lờ đi đâu.
Mấy lời hộ niệm trước sau,
Nguyện cho thành Phật mau mau nữa mà.
Phân thân ra khỏi Ta-bà,
Từ bi tiếp độ những là chúng sanh.
Trí Hải - Bích Liên

No comments:
Post a Comment