Sunday, May 5, 2019

Wednesday, April 24, 2019

TUỔI THƠ BAY CAO - Lương Thúy Anh



Mùa hạ hồng đang từng bước nhẹ nhàng đi vào lòng phố Huế.
Có những buổi chiều tôi theo chân mùa hạ, để rồi, nghe dường như trong mùa mới có giọng của tuổi thơ thì thầm vọng từ những mùa rất cũ…
Những ngày mùa hạ lồng lộng gió gợi cho tôi nhớ những cánh diều phất phới bay giữa bầu trời xanh ngăn ngắt màu mây, màu mây ấy trong vắt chưa hề gợn chút sắc xám ưu tư.
Trong kí ức tuổi thơ của tôi, có những cánh diều giấy, được dán ghép rất đơn sơ, có khi chỉ là mấy mảnh giấy báo cũ, anh tôi ngồi cặm cụi cắt dán lên khung tre đã vót, cột sẵn, thành một khung hình, giấy báo cắt thành hình theo khung tre, dán lên gọi là phất diều.
Lớn hơn một chút, là các em của tôi cùng các bạn tự làm .
Cánh diều hồi ấy rất đơn giản, chỉ là tấm giấy hình vuông, dán thêm đuôi, hay là diều phên, diều cánh cung, kiểu cách hơn là diều bướm, diều battman…dán toàn bằng giấy báo, hay là giấy vở học trò, ví dụ như một cánh diều phên thì một tờ giấy vở là vừa y nguyên, sít sao một khung tre, không cần cắt bớt hay nối thêm. Có khi sang hơn, đi nhà sách mua giấy dầu màu, là loại giấy tựa như giấy kiếng màu hiện nay nhưng đục chứ không trong suốt.
Diều dán xong, sẽ được thả bằng chỉ may thôi, chỉ cuộn tròn trên chiếc ống, nhưng nếu diều nặng hơn thì chạy bằng gấc mảnh.
Những cánh diều hiện nay được làm hoàn toàn công nghiệp, sản xuất hàng loạt, màu mè và kiểu cọ vô cùng phong phú, khi thả lên cũng bay phất phới, nhiều màu rất bắt mắt, nhưng lạ lùng là không hề gợi trong tôi một cảm xúc nào, chỉ là đưa mắt nhìn theo, những sắc màu rực rỡ ấy …một cách nhìn rất hững hờ, rồi nhủ thầm…đẹp thì có đẹp, nhưng chỉ là đẹp sắc màu hiện đại, chứ không hề đẹp sắc màu gợi nhớ…
Trẻ em bây giờ không còn mấy em giữ được niềm vui chơi thả diều, cũng vì nhiều lí do, trong đó…do việc học dồn dập, trò chơi trên máy vi tính quá nhiều, đường phố Huế bây giờ vắng hẳn những không gian thoáng rộng như xưa… và chừ nếu các em muốn chơi diều, chỉ cần ra phố, chợ hỏi mua là có ngay một con diều.
Điều này có nghĩa là các em đã hoàn toàn thiếu niềm vui làm diều, làm do tự mình làm hay là ngồi coi Cha, anh của mình làm diều. Ngồi vót tre, chia chia tính tính, rồi cột lại thành một khung hình theo ý thích, xong phất giấy, những điều này đôi khi tuổi thơ ngày ấy đã từng say mê đến quên ăn mất ngủ, hay ngồi nhìn anh mình làm dùm, theo dõi từng cử chỉ từng động tác vừa là để bắt chước, vừa là vì lòng cứ nôn nóng, trông mau mau xong để chạy ra đường mà thả cánh diều lả lướt theo mùa gió quê hương.
Chừ những chiều hè đang lần lượt quay về trên quê hương, đôi khi tôi nghe loáng thoáng trong gió Huế, có tiếng reo cười của tuổi thơ, vỡ òa niềm vui theo cánh diều nương gió bay cao rất cao, hay bất chợt chùng hẳn lại bởi thấy con diều giấy khi không mà lảo đảo nghiêng ngả chực rơi về nơi xuất phát, có khi diều bay nhanh quá rồi thình lình vướng vô cành cây, dây điện trên cao, để lại trong lòng tuổi thơ hồi ấy sự tiếc rẻ vô cùng.
Tiếng sáo diều tuổi thơ vi vu của mùa xưa cũ ấy, nghe nhẹ hẫng, chẳng hề chớm nụ ưu phiền, chỉ là duy nhất niềm vui chiếm hữu trọn vẹn, niềm vui càng lúc càng tăng theo tỉ lệ thuận với “cánh diều no gió” đơn sơ, mộc mạc một thời…
“Ôi cánh diều no gió, tuổi thơ trên đó...
Nhẹ lên diều ơi, càng cao càng vui”

Wednesday, March 27, 2019

Quê hương








Monday, February 18, 2019

Hành giả vĩ đại nhất của Tây tạng có thể dạy ta điều gì về cuộc đời



Đại Hành giả Tây Tạng Milarepa
Tên ngài là Milarepa và ngài là một kẻ sát nhân. Thủa đầu đời của vị hành giả vĩ đại người Tây Tạng này đã bị tổn thương bởi sự bạo lực, thù hằn và sân hận. Nhưng mỗi khi nhắc đến tên ngài, đôi mắt của mọi người Tây Tạng sẽ ướt đẫm những giọt lệ sùng mộ và hỉ lạc. Cuộc đời của Milarepa là một câu chuyện về sự chuyển hóa. Đây là một người đã nhận ra những lỗi lầm, sai sót của mình và đã xoay chuyển cuộc đời mình. Đây là một người đã trở thành một yogi (hành giả) vĩ đại nhất mà thế giới từng nhìn thấy.
Milarepa là ai?
Kẻ sát nhân
Milarepa sinh năm 1052 trong một gia đình giàu có ở xứ tuyết Tây Tạng. Cha ngài mất khi ngài còn nhỏ và bởi không có người cai quản điền trang, chú thím ngài đã chiếm đoạt toàn bộ di sản của ngài. Tràn ngập sự giận dữ và căm thù, chàng thanh niên Milarepa đi học huyền thuật và nhanh chóng trở về để giết hại những kẻ hãm hại gia đình mình. Trong thực tế, người ta nói rằng với sự căm thù, Milarepa sân hận tới nỗi đã giết chết 35 người trong ngôi làng của chú ngài trong đêm phục hận.
Gặp gỡ Đạo sư
Không lâu sau những sự kiện khủng khiếp đó, cuộc đời của Milarepa bắt đầu vỡ tan thành từng mảnh. Ngài đã đi tới một chốn vô cùng tăm tối và ngài nhận thức thật sâu xa rằng cuộc đời ngài hóa ra hoàn toàn lầm lạc. Ngài xấu hổ về con người mình và những gì ngài đã làm cho gia đình ngài. Ngài nhận thức được lỗi lầm trầm trọng ngài đã phạm.
Vì thế ngài bắt đầu làm những điều tốt lành. Trong quá trình chuộc lại lỗi lầm, Milarepa gặp Đạo sư Marpa, vị Thầy đã mang toàn bộ Phật pháp từ Ấn Độ về Tây Tạng. Để đưa về Tây Tạng những giáo lý này, Marpa đã phải chịu đựng những gian khổ lớn lao và người ta nói rằng không có Marpa thì Phật giáo sẽ không tồn tại ở xứ tuyết.
Giây phút Milarepa nhìn thấy Marpa lần đầu tiên thật là kỳ diệu. Truyền thuyết kể lại rằng Marpa ở ngoài đồng, bên một con đường, ngài uống một ly rượu và Milarepa đi ngang qua mặt ngài. Thoạt đầu khi Milarepa vừa nhìn thấy Marpa, toàn thể thế giới tĩnh lặng và lông tóc sau cổ ngài dựng đứng lên. Milarepa không biết người đàn ông đó là ai nhưng bởi mối nối kết mạnh mẽ từ những đời quá khứ, người ta nói rằng chỉ nhìn thấy Marpa là Milarepa đã kinh nghiệm một trạng thái thiền định sâu xa.
Marpa buộc Milarepa phải chịu những gian khổ lớn lao
Ngọn tháp cuối cùng của Milarepa ở quận Lhodrak (Tây Tạng), phía bắc biên giới Bhutan.
Milarepa đã tu học với nhiều Đạo sư Phật giáo nhưng dường như không vị Thầy nào có thể giúp đỡ được ngài. Trong trái tim của ngài, ngài biết ngài phải tu học với Marpa. Vì thế ngài quay trở lại để hỏi Marpa và khẩn cầu vị Thầy này giúp đỡ nhưng Marpa chỉ quở mắng và đuổi ngài đi. Mỗi lần Milarepa thỉnh cầu giáo lý thì Marpa chỉ giận dữ, đánh đập và tống cố ngài ra ngoài. Mặc dù vậy, cuối cùng Marpa nhượng bộ và đi tới một thỏa thuận với Milarepa:
“Hãy xây cho ta một ngọn tháp lớn và ta sẽ dạy Pháp cho ngươi,” Marpa nói.
Vì thế Milarepa bắt đầu làm việc. Ngài thâu thập những viên đá, các tảng đá và gỗ từ khắp mọi nơi. Sau nhiều tuần làm việc kiệt lực, Milarepa trở về gặp Marpa và nói với vị Thầy rằng ngọn tháp đã hoàn tất. Marpa tới kiểm tra công việc và khi nhìn thấy ngọn tháp, Marpa bắt đầu chửi mắng Milarepa, nói rằng Milarepa đã làm sai hoàn toàn và phải bắt đầu lại!
Sự việc này diễn ra chín lần nữa.
Ngọn tháp cuối cùng mà Milarepa xây dựng cao chín tầng và phải mất nhiều tháng để hoàn tất. Xin nhớ rằng việc này xảy ra trước khi có xe hơi, cần trục và máy trộn xi măng. Công việc này làm Milarepa bị thương và người ta nói rằng lưng ngài đầy những vết thương lở loét và giờ đây ngài thành một người gù lưng bởi phải vác những tảng đá. Nhưng ngài đã thực hiện điều Marpa yêu cầu và sự hiến dâng của ngài đối với Thầy Marpa không bao giờ lay chuyển. Ngài vô cùng khao khát giáo lý.
Khi ngọn tháp sau cùng được xây dựng xong, Milarepa ngần ngại trở về nhà của Marpa, nơi vị Thầy đang ban các giáo lý cao cấp cho vài hành giả khác. Milarepa phủ phục dưới chân Thầy và cầu xin giáo lý. Nhưng cũng như thường lệ, Marpa bảo Milarepa hãy ra khỏi nơi đó.
Hoàn toàn tuyệt vọng, Milarepa quyết định tự vẫn. Trong quá khứ, ngài đã giết chết 35 người và không có giáo lý của Đức Phật, ngài cảm thấy không thể làm những điều đúng đắn và không có cách nào để mang lại lợi ích cho những người đã chết đó. Vì thế ngài treo một sợi thừng trên cây và tròng giây quanh cổ. Ngài hít một hơi thật sâu và dốc hết nghị lực, và ngay khi ngài sắp bước vào cái chết thì Marpa tới gần và nói giờ đây Milarepa đã sẵn sàng được nhận những giáo lý tối thượng của Phật giáo. Thầy Marpa đã chấp nhận ngài là đệ tử.
Người ta nói rằng Marpa bắt Milarepa phải chịu những gian khổ này để giúp Milarepa tịnh hóa ác nghiệp và khiến ngài trở thành một bình chứa (pháp khí) thích hợp đối với các giáo lý. Không có những gian khổ này, tâm thức của Milarepa sẽ không được chuẩn bị và ngài sẽ tu tập không tiến bộ do bởi những ác hạnh trầm trọng của ngài trong quá khứ. Nhờ trí tuệ, Marpa biết rằng những công việc khổ nhọc sẽ làm lợi lạc cho Milarepa và giúp cho tân hành giả này tiến bộ nhanh chóng trên con đường.
Đức Karmapa 17 trước ngọn tháp huy ền thoại mà Marpa buộc Milarepa phải thực hiện.
Tu học với Marpa và thiền định trong các hang động
Sau đó Milarepa nhận lãnh tất cả những giáo lý của Marpa. Một đêm trong một giáo lý tuyệt mật, Marpa có một giấc mơ. Trong giấc mơ một vị Phật nữ tuyệt đẹp nói với ngài rằng Milarepa sẽ trở thành vị hộ trì dòng truyền thừa của ngài và vì thế hãy nỗ lực giảng dạy cho Milarepa. Do đó Marpa đã dạy cho Milarepa mọi sự mà ngài đã học ở Ấn Độ, giống như người ta rót nước từ chiếc bình này sang chiếc bình khác.
Khi Milarepa đã được giảng dạy đầy đủ, ngài từ giã mọi người và lên đường tới nơi hoang dã. Ngài nguyện sống đơn độc trong những hang động cho tới khi thành tựu giác ngộ và ngài không bao giờ vi phạm lời nguyện này. Đôi khi Milarepa bít lối vào hang để ngài không thể ra khỏi và thiền định ở đó hàng nhiều năm. Thực phẩm và nước uống được đưa vào cho ngài qua một khe nứt giữa các viên gạch.
Hang động ẩn tu của Milarepa tại Manang (Nepal)
Giác ngộ trong một đời
Các giáo lý Phật giáo nói rằng người ta có thể đạt được giác ngộ trong một đời nhưng điều đó vô cùng hiếm có. Hầu hết hành giả Phật giáo phải mất rất nhiều cuộc đời để tích lũy trí tuệ và công đức. Nhưng Milarepa đã làm được điều đó. Ngài nổi danh là người duy nhất trong lịch sử Tây Tạng thành tựu sự toàn giác trong một thân người, ngay trong một đời người. Và đó là lý do vì sao ngài là hành giả vĩ đại nhất trong mọi hành giả.
Đức Milarepa có thể dạy chúng ta điều gì trong cuộc đời
Milarepa nổi danh là một thi sĩ vĩ đại. Ngài thường lang thang quanh những miền quê, hát những bài ca và viết những bài thơ cho người dân địa phương. Tôi muốn chia sẻ với quý vị một vài bài thơ, giáo lý và trích dẫn nổi tiếng nhất của Milarepa với hy vọng rằng điều đó có thể mang lại lợi lạc cho một người nào đó.
  1. Hãy khiêm tốn
“Hãy ngồi ở chỗ thấp nhất, và các con sẽ đạt được vị trí cao nhất.” –– Milarepa
Milarepa nổi danh là rất khiêm tốn. Ngài không mặc gì ngoài một vài quần áo rách dơ bẩn và không bao giờ ngồi trên một Pháp tòa hay ghế cao. Ngài không có tu viện lộng lẫy, thay vào đó ngài chọn cách sống trong những hang động và núi non.
Nhiều bài ca của ngài nói về sự khiêm tốn. Milarepa thường nói về đức tính khiêm tốn giúp ta phát triển lòng bi mẫn và lòng yêu thương, trong khi sự kiêu ngạo khiến chúng ta cảm thấy mình tốt hơn và quan trọng hơn tất cả những người khác. Ngài thường quở trách những người dân địa phương kiêu ngạo, nói rằng sự cao ngạo là nguyên nhân của đau khổ bởi nó quá sức quy ngã. Và khi quý vị kiêu ngạo và tự cao, các sự việc không theo ý muốn của quý vị, quý vị sẽ đau khổ.
  1. Tỉnh giác về cái chết
“Cuộc đời thật ngắn ngủi, và thời gian của cái chết thì bất định; vì thế hãy chuyên tâm thiền định. Hãy tránh những hành vi sai trái và tích tập công đức trong khả năng tốt nhất của các con, dù phải trả giá bằng cuộc đời mình. Tóm lại, hãy hành động để các con không có lý do gì phải xấu hổ về bản thân mình; và hãy tuân thủ chặt chẽ quy tắc này.” – Milarepa
Một trong những chủ đề chính yếu trong các bài thơ và bài hát của Milarepa là cái chết. Dường như việc ngài là một kẻ sát nhân trong quá khứ đã lưu lại dấu vết trong tâm thức ngài và ngài luôn luôn tỉnh giác về việc cái chết có thể đến bất kỳ lúc nào. Nhưng Milarepa đã sử dụng sự hiểu biết đó như một nguồn cảm hứng chứ không phải một lý do để tuyệt vọng. Thay vì lo lắng về cái chết, ngài đối mặt với những sợ hãi của ngài và sử dụng cái chết của ngài như động lực chính yếu để tu hành miên mật.
Tôi thường cố khuyến khích các độc giả của tôi thực hành tương tự. Chúng ta không biết khi nào chúng ta chết nhưng ta biết rằng cái chết là một điều chắc chắn. Vì thế ta nên sử dụng cơ hội quý báu này để thành tựu các mục tiêu của ta và làm một vài điều tốt đẹp nào đó. Đó là những gì Milarepa đã làm. Ngài đã sử dụng phần lớn thời gian của ngài bằng cách liên tục tỉnh giác rằng thời gian có thể cạn kiệt.
  1. Tỉnh giác về sự vô thường
“Mọi theo đuổi thế gian chỉ có một kết thúc chắc chắn phải xảy ra và không thể tránh khỏi, đó là sự đau khổ. Mọi thâu đạt kết thúc trong tan tác; mọi tạo lập kết thúc trong hủy diệt; mọi gặp gỡ kết thúc trong chia ly; mọi sự sinh ra kết thúc trong cái chết.” – Milarepa
Một điều mà tôi mong ước cha mẹ tôi sử dụng thêm thời gian để dạy dỗ tôi là chân lý của sự vô thường. Hiểu rõ lẽ vô thường là một điều vô cùng hữu ích nhưng đáng buồn thay, đó lại là một điều mà hầu hết mọi người không bao giờ thực sự thấu hiểu.
Milarepa thường nói với m ọi người rằng đừng quá dính mắc vào các sự việc bởi chúng sẽ không tồn tại lâu dài. Những mối quan hệ, của cải, công việc, nhà cửa, xứ sở v.v.., t ất cả sẽ biến mất như một cầu vồng. Sẽ chẳng có gì tồn tại mãi mãi. Và nhờ thấu hiểu và tôn trọng chân lý này ta sẽ có thể vui hưởng cuộc đời nhiều hơn nữa. Những mối quan hệ của ta với thế giới trở nên hiện thực và lành mạnh hơn. Ta sẽ không mê mải bám chấp vào các sự việc khi ngăn cản chúng đừng chấm dứt. Khi thấu hiểu lẽ vô thường ta có thể nhận thức sâu sắc hơn về các sự việc khi chúng hiện hữu ở đây.
  1. Đừng bị lừa gạt bởi những phóng dật thế gian
“Những công việc của thế gian sẽ tiếp diễn không bao giờ ngừng nghỉ. Đừng trì hoãn thực hành thiền định” – Milarepa
Tôi thích trích dẫn này. Trong thực tế, tôi dùng câu trích dẫn này làm nền màn hình máy tính của tôi. Tôi đọc nó khi cần nhắc nhở mình rằng có những điều khác đáng làm hơn là chỉ ăn, ngủ và làm việc.
Tất cả chúng ta đều có thể đồng cảm với châm ngôn này, cho dù chúng ta không là những hành giả. Những công việc của thế gian sẽ tiếp diễn không bao giờ ngừng dứt. Sẽ luôn luôn có một người nào đó hay điều nào đó ngăn trở những hy vọng hay giấc mơ của quý vị. Có thể đó là công việc, tiền bạc hay một vài chướng ngại khác nhưng ngay khi quý vị vượt qua nó, một chướng ngại mới sẽ xuất hiện.
Milarepa bảo chúng ta đừng lãng phí thời gian mà phải thuận thảo với nó. Sẽ luôn luôn có những phóng dật và vấn đề, nhưng dù thế nào đi nữa thì chúng ta cần phải tiến tới. Điều này vô cùng quan trọng.
Sống và chết không hối tiếc.
“Tôn giáo của tôi không phải là đạo Phật. Tôn giáo của tôi là sống và chết không hối tiếc.” – Milarepa.
Đây luôn luôn là trích dẫn mà tôi yêu thích. Không chỉ riêng c ủa Milarepa mà của mọi người, ở mọi nơi. Tôi đọc nó và cảm thấy hứng khởi trong việc làm một người tốt hơn và làm mọi sự tôi có thể khiến cho đời tôi ích lợi hơn và xứng đáng hơn. Tôi yêu quý trích dẫn đó bởi nó đánh mạnh vào cốt lõi của vấn đề và cho ta thấy việc đứng ở ngưỡng cửa của cái chết và hối tiếc về những điều mà ta từng làm (hay không làm!) trong tuổi thanh xuân thì khủng khiếp biết bao.
 Những Bài Ca của Milarepa
Nếu quý vị thích thú trong việc nghiên cứu thêm nữa về đại hành giả này thì tôi hết sức khuyến khích quý vị đọc quyển sách nổi tiếng tên là Một Trăm ngàn Bài Ca của Milarepa. Đây luôn luôn là quyển sách tôi thích đọc nhất. Đó là một tuyển tập tuyệt vời gồm tất cả những bài thơ, bài hát và giáo lý của Milarepa.
Đó là một tác phẩm vô cùng súc tích. Đôi khi ngài hát về những điều như thể diễn ra sống động trong một hang động và quý vị cảm thấy như thể thực sự ở đó, ngay bên cạnh ngài. Những lúc khác ngài hát về lòng bi mẫn bùng cháy trong lòng ngài giống như một ngọn lửa và quý vị cảm nhận về điều gì đó như thể kinh nghiệm về lòng thương yêu đích thực.
Nói chung đó là một quyển sách thật đáng đọc. Quyển sách này từng hiện diện trong mọi gia đình ở Tây Tạng trong hàng trăm năm. Nó được đọc cho trẻ em khi chúng còn thơ ấu và sau đó được các tu sĩ nghiên cứu trong các tu viện.
Quý vị khó tìm được một người Tây Tạng nào không thể đọc thuộc lòng ít nhất một bài thơ của Milarepa.
Kết luận
Bài viết này sẽ không thể lưu hành mãi mãi. Tiểu sử của Milarepa có thể dạy chúng ta rấ t nhiều về việc chúng ta là ai và chúng ta có thể trở thành cái gì. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là nó cho chúng ta thấy rằng tất cả chúng ta đều có năng lực để chuyển hóa cuộc đời và hoàn cảnh của riêng mình. Chúng ta là chủ nhân số phận của chính mình.
Nguyên tác: “What Tibet’s Greatest Ever Yogi Can Teach Us About Living Life”Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên

Monday, February 4, 2019

Chúc Mừng Năm Mới - Kỷ Hợi




Năm mới Kỷ Hợi gia đình Trọng kính chúc đại gia đình cùng tất cả bạn bè một năm mới An Lành, Thịnh Vượng, mọi việc đều thông suốt.

Saturday, January 26, 2019

Em và tôi



Năm ấy tôi vừa tròn 20 tuổi, rủ áo thư sinh tôi đi vào quân ngũ. Còn em 16 một cô nử sinh trung học trường Hưng Đạo-Nha Trang. Chú của tôi (Ba em) lúc đó đang là Trung Tá chỉ huy trưởng Quân Cụ đóng tại Nha Trang, sau khi nghe tin tôi mới vào quân trường Lam Sơn, Chú liền liên lạc với Trung úy Gia quân cụ đơn vị đang đóng cạnh quân trường Lam Sơn liên lạc và xin phép cho tôi được đi phép đặc biệt về Nha Trang. Trưa thứ 7 đang ngồi ăn cơm cùng tiểu đội trên bãi tập.



Tôi được Thiếu úy Tài chỉ huy Đại đội báo cho biết, tôi hảy về văn phòng Đại đội để nhận giấy phép 24 giờ. Quá vui mừng tôi chạy thẳng về văn phòng nhận giấy phép, sau khi cất ba lô không kịp thay bộ áo quần đã mặc suốt tuần. Tôi liền đi nhanh ra cổng trại và lúc đó Thím tôi cùng Diệu Hồng đã đem xe jeep ra đón tôi tại cổng quân trường. Tôi ngồi sau xe với em về Nha Trang thành phố biễn. Về đến nhà tôi thay bộ áo quần trận ra, định tắm xong sẽ giăt. Đang tắm tôi nghe tiếng anh tài xế xe của Chú bên ngoài "Chị Hồng để đó rồi tui giặt cho".  Hồng đáp "Không, việc này không phải của Chú. Hồng phải giặt sớm để ngày mai anh Trọng có áo quần trở lại quân trường". Tắm xong vừa bước ra khỏi phòng, thì thấy em đang đỗ nứơc dơ của bộ áo quần ra. Ôi tình yêu thương của cô em gái đã dành cho tôi. 24 giờ phép đầu tiên bên gia đình Chú Thím và các em của tôi thật hạnh phúc.

Ngày mai em trở về với cát bụi. Diệu Hồng ơi! An nghỉ trong bình yên em nhé. Đốt nén tâm hương cầu mong Em được siêu sanh về thế giới an lành.

Hoàng Trọng 

Sunday, December 2, 2018

Tiểu sử của Tsongkhapa (rJe Tsong-kha-pa Blo-bzang grags-pa) (1357-1419)


Tiểu sử của một Lạt ma vĩ đại được gọi là "namtar" (rnam-thar), một tiểu sử giải phóng, vì nó truyền cảm hứng cho người nghe theo gương của Lạt ma sẽ đạt được giải phóng và giác ngộ. Tiểu sử của Tsongkhapa (rJe Tsong-kha-pa Blo-bzang grags-pa) (1357-1419) thực sự là cảm hứng.

Tiên Tri và Thời thơ ấu

Cả Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và Guru Rinpoche đã tiên đoán sự ra đời và những thành tựu của Tsongkhapa. Vào thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, một cậu bé là một hóa thân trước đây của Tsongkhapa đã đưa ra một chuỗi hạt hoa hồng pha lê cho Đức Phật và nhận lại một vỏ ốc xà cối. Đức Phật đã tiên tri Manjushri sẽ được sinh ra như một cậu bé ở Tây Tạng, sẽ tìm thấy ở tu viện Ganden, và sẽ trình bày một vương miện tượng của tôi. Đức Phật giao cho cậu bé cái tên tương lai là Sumati-kirti (Blo-bzang grags-pa, Lozang-dragpa). Guru Rinpoche cũng tiên đoán một tu sĩ có tên là Lozang-dragpa sinh ra ở gần Trung Quốc, sẽ được xem như là một hóa thân của Bồ Tát vĩ đại, và sẽ làm tượng Phật bằng một biểu tượng Sambhogakaya.

Một số dấu chỉ trước khi Tsongkhapa ra đời cũng chỉ ra rằng ông sẽ là một con người tuyệt vời. Cha mẹ của ông, ví dụ, có nhiều giấc mơ tốt lành rằng con của họ sẽ là một emanation của Avalokiteshvara, Manjushri, và Vajrapani. Người thầy của ông, Chojey Dondrub-rinchen (Chos-rje Don-grub rin-chen), đã nói với Yamantaka rằng ông (Yamantaka) sẽ đến Amdo (A-mdo, đông bắc Tây Tạng) trong một năm nhất định và trở thành đệ tử của ông.

Tsongkhapa sinh ra ở Tsongkha (Tsong-kha), Amdo, vào năm 1357, con thứ tư trong số sáu con trai. Một ngày sau khi Tsongkhapa ra đời, Chojey Dondrub-rinchen đã phái đệ tử chính của mình cho cha mẹ bằng những món quà, bức tượng, và một lá thư. Cây sandlewood phát triển từ chỗ mà dây rốn của ông rơi xuống đất. Mỗi lá có một bức tranh tự nhiên của Phật Sinhanada (Sangs-rgyas Seng-ge sgra), và do đó được gọi là Kumbum (sKu-'bum), một trăm nghìn hình ảnh cơ thể. Tu viện Gelug gọi là Kumbum sau này được xây dựng tại chỗ đó.
[Xem: Một Lịch sử ngắn gọn của Tu viện Kumbum.]

Tsongkhapa không giống như một đứa trẻ bình thường. Anh ta không bao giờ làm việc xấu; ông tự bản thân tham gia vào các hành động loại Bồ tát; và anh ấy rất thông minh và luôn muốn học mọi thứ. Ở tuổi lên ba, ông đã thọ giới từ Karmapa thứ tư, Rolpay-dorjey (Kar-ma-pa Rol-pa'i rdo-rje) (1340-1383). Ngay sau đó, cha ông mời Chojey Dondrub-rinchen đến nhà của họ. Lạt ma đề nghị chăm sóc cho sự giáo dục của cậu bé và người cha hài lòng đồng ý. Cậu bé ở nhà cho đến khi lên bảy tuổi, học với Chojey Dondrub-rinchen. Chỉ cần nhìn thấy lama đọc, ông bản năng biết làm thế nào để đọc mà không cần phải được giảng dạy.

Trong thời gian này, Chojey Dondrubin-rinchen đã trao cho cậu bé những quyền năng của Năm Chân Lý Chakrasamvara (Dril-bu lha-lnga), Hevajra, Yamantaka và Vajrapani. Đến năm bảy tuổi, Ngài đã ghi nhớ các nghi lễ hoàn chỉnh của họ, đã hoàn tất cuộc thiền Chakrasamvara, đã bắt đầu tự tánh và đã có một tầm nhìn về Vajrapani. Ông thường mơ ước Atisha (982-1054), đó là một dấu hiệu cho thấy ông sẽ sửa những hiểu lầm về Pháp ở Tây Tạng và khôi phục lại sự tinh khiết của nó, kết hợp với kinh điển và tantra, như Atisha đã làm xong.

Năm bảy tuổi, Tsongkhapa đã nhận được lời thệ nguyện của người mới đến từ Chojey Dondrubin-rinchen và tên truyền chức tên là Lozang-dragpa. Ông tiếp tục học tại Amdo với vị lạt ma này cho đến năm mười sáu, lúc đó ông đã đến U-tsang (dBus-gtsang, miền Trung Tây Tạng) để nghiên cứu sâu hơn. Anh ấy chưa bao giờ trở về quê hương. Chojey Dondrub-rinchen vẫn ở Amdo, nơi ông thành lập Tu viện Jakyung (Bya-khyung dGon-pa) về phía nam của Kumbum.


Các nghiên cứu ban đầu ở miền Trung Tây Tạng

Ở Trung Tây Tạng, Tsongkhapa lần đầu tiên học tại tu viện Drigung Kagyu, nơi ông đã học được truyền thống Mahamudra của Drigung gọi là "sở hữu năm" (phyag-chen lnga-ldan), y khoa, và chi tiết thêm về bodhichitta. Đến năm 17 tuổi, ông là một bác sĩ chuyên môn. Sau đó ông nghiên cứu Filigree of Realizations, các văn bản khác của Maitreya, và prajnaparamita (phar-phyin, nhận thức phân biệt sâu xa) tại một số tu viện Nyingma, Kagyu, Kadam và Sakya, ghi nhớ các văn bản chỉ trong vài ngày. Đến năm 19 tuổi, ông đã được công nhận là một học giả vĩ đại.

Ông tiếp tục đi đến các tu viện nổi tiếng nhất của truyền thống Phật giáo Tây Tạng, nghiên cứu năm chủ đề đào tạo chính Geshe và hệ thống các nguyên lý của Ấn Độ, tranh luận và ngồi để tranh luận. Ngài đã nhận được các giáo lý Kadam Lam-rim (Lam-rim, xếp loại Sutra) và vô số các quán đảnh và truyền bá tantric, bao gồm truyền thống Sakya của lamdray (lam-bras, các con đường và kết quả), truyền thống Drigung Kagyu của sáu giáo lý của Naropa (Na-ro'i chos-drug, sáu yogas của Naropa), và Kalachakra. Ông cũng nghiên cứu thành phần thơ, chiêm tinh, và xây dựng mandala. Trong tất cả các nghiên cứu của ông, ông chỉ nghe một lời giải thích một lần và sau đó ông hiểu và nhớ nó một cách hoàn hảo - như trường hợp Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ mười bốn.
Tsongkhapa luôn luôn từ bỏ mạnh mẽ. Ngài sống cực kỳ khiêm tốn và giữ lời thề của mình hoàn toàn. Ngài có thể dễ dàng đạt được shamatha (zhi-gnas, trạng thái tĩnh lặng và định tâm) và vipashyana (lhag-mthong, một trạng thái tâm trí đặc biệt nhận thức), nhưng không bao giờ hài lòng với việc học tập và trình độ của mình. Ông tiếp tục đi và yêu cầu học giáo lý nhiều lần thậm chí trên cùng một văn bản. Ông tranh luận và ngồi kiểm tra với hầu hết các thạc sĩ đã học được trong ngày với mình.

Một trong những giáo sư chính của ông là Rendawa (1349-1412), một bậc thầy Sakya. Tsongkhapa đã viết lời khen ngợi Migtsema (dMigs-brtse-ma) cho ông ta, nhưng vị tổng quyền này đã dành lại nó cho Tsongkhapa. Sau này trở thành câu thơ được nhắc lại cho Tsongkhapa guru-yoga.

Giảng Dạy Đầu tiên và Viết

Tsongkhapa bắt đầu giảng dạy trong khi ở tuổi 20 của mình, với giáo huấn đầu tiên của ông về abhidharma (mdzod, các chủ đề kiến ​​thức đặc biệt). Mọi người đều kinh ngạc trước sự hiểu biết của mình. Ông cũng bắt đầu viết và thực hiện nhiều khóa tu. Chẳng bao lâu, ông đã có nhiều đệ tử của riêng mình. Mặc dù một số tường thuật cho hay Tsongkhapa đã thọ giới tu sĩ đầy đủ ở tuổi 21, nhưng không rõ năm này có thực sự diễn ra như thế nào. Có lẽ sau đó ở độ tuổi 20 của mình.

Vào một thời điểm, ông nghiên cứu và phân tích toàn thể Kangyur (bKa '-' gyur) và Tengyur (bsTan-'gyur) - những lời dạy trực tiếp của Đức Phật và những bình luận của Ấn Độ. Sau đó, ở tuổi 32, ông đã viết một Mân Côi, Mân Côi về giải thích xuất sắc (Legs-bshad gser-phreng), một bài bình luận về Mối Lòng Thực hiện và do đó về prajnaparamita. Ông đã tổng hợp và thảo luận tất cả 21 bình luận của Ấn Độ. Bất cứ điều gì ông viết, ông đã chứng minh với các trích dẫn từ toàn bộ thời kỳ văn học Phật giáo Ấn Độ và Tây Tạng, so sánh và phê bình biên tập những bản dịch khác nhau. Không giống những học giả trước đây, ông không bao giờ thoát khỏi việc giải thích các đoạn văn khó hiểu nhất và khó hiểu nhất trong bất kỳ văn bản nào.
Thông thường, Tsongkhapa có thể ghi nhớ mỗi ngày mười bảy trang Tây Tạng hai mặt của chín đường dây ở mỗi bên. Một khi một số học giả tổ chức một cuộc thi ghi nhớ để xem ai có thể ghi nhớ được hầu hết các trang trước khi mặt trời ló lên tấm banner trên mái nhà của tu viện. Tsongkhapa thắng với bốn trang, trong đó ông đọc trôi chảy không có lỗi. Người kế tiếp gần nhất chỉ có thể làm được hai rưỡi, và với sự kinh ngạc.

Tsongkhapa sớm bắt đầu cung cấp các sự truyền bá và thần bí tantric, và đặc biệt là sự cho phép tiếp theo (rjes-snang, jenang) của Sarasvati (dByangs-can-ma) cho sự khôn ngoan. Ông cũng tiếp tục nghiên cứu về tantra, đặc biệt là Kalachakra.

Một vị Lạt ma vĩ đại nổi tiếng đã dạy mười một bài văn cùng một lúc. Một đệ tử yêu cầu Tsongkhapa làm như vậy. Tsongkhapa đã dạy mười bảy kinh điển kinh điển, tất cả đều từ bộ nhớ, mỗi buổi mỗi ngày, bắt đầu tất cả trong cùng một ngày và kết thúc ba tháng sau đó, cũng trong cùng một ngày. Trong bài diễn thuyết, ông bác bỏ những diễn giải không chính xác của mỗi người và đưa ra quan điểm riêng của mình. Mỗi ngày trong suốt bài diễn thuyết, ngài cũng đã thực hiện tự thiền (bdag-'jug) của Yamantaka và tất cả những thực hành tantric khác của mình.

Nếu chúng ta nhìn vào cuộc đời chỉ 62 năm của mình, và xem xét ông ta học tập, thực hành (bao gồm cả việc tạo ra những bức tượng đất sét tsatsa), ông viết, giảng dạy, và rút lui, có vẻ như không thể ai có thể làm được cả một trong số họ trong suốt cuộc đời.

Học tập và Thực hành Tantra Chuyên sâu

Ngay sau đó, Tsongkhapa đã thực hiện khóa tu tantric đầu tiên của mình, trên Chakrasamvara theo dòng truyền thừa Kagyu. Trong khóa tu này, ngài suy gẫm về sáu giáo lý của Naropa và sáu pháp môn của Niguma (Ni-gu'i chos-drug, sáu yogas của Niguma). Ông đã đạt được sự chứng ngộ tuyệt vời.

Sau đó, ở tuổi 34, Tsongkhapa đã quyết định tham gia vào việc nghiên cứu chuyên sâu và thực hành của tất cả bốn lớp Tantra. Như sau này ông đã viết, người ta không thể thực sự đánh giá cao sự tràn ngập của tantra anuttarayoga trừ khi một người đã thực hành và hiểu rõ sâu hơn ba tantra thấp hơn. Do đó, ngài đã đi lại rộng rãi và nhận được nhiều quyền năng và giáo lý về ba tầng lớp Tantra thấp hơn. Ông cũng nghiên cứu thêm giai đoạn hoàn chỉnh năm giai đoạn (rdzogs-rim) của Guhyasamaja và Kalachakra.

Nghiên cứu và rút lui để thu nhận nhận thức phi ý thức về sự trống rỗng

Tsongkhapa cũng đã đến nghiên cứu về pháp môn Manjushri Dharmachakra và Madhyamaka với Karma Kagyu Lama Umapa (Bla-ma dbu-ma-pa dPa'-bo rdo-rje). Đạo sư vĩ đại này đã nghiên cứu Madhyamaka với truyền thống Sakya, và từ thời thơ ấu đã có tầm nhìn hàng ngày của Manjushri, người đã dạy cho ông một câu mỗi ngày. Tsongkhapa và ông trở thành giáo viên và đệ tử. Lama Umapa đã kiểm tra với Tsongkhapa để nhận được xác nhận rằng những lời dạy mà ông nhận được trong tầm nhìn của ông về Manjushri là chính xác. Điều này rất quan trọng, vì tầm nhìn có thể bị ảnh hưởng bởi quỷ.
Cùng với Lama Umapa, Tsongkhapa đã thực hiện một cuộc tĩnh tâm rộng lớn trên Manjushri. Từ thời gian này trở đi, Tsongkhapa nhận được sự hướng dẫn trực tiếp từ Manjushri trong những khải tượng thuần khiết và có thể nhận được từ ông ta câu trả lời cho tất cả các câu hỏi của ông. Trước đó, ông phải đặt câu hỏi lên Manjushri thông qua Lama Umapa.

Trong khóa tu, Tsongkhapa cảm thấy mình vẫn chưa hiểu rõ Madhyamaka và Guhyasamaja. Manjushri khuyên rằng ông sẽ rút lui rất dài và sau đó sẽ hiểu được những ghi chép ông đã lấy từ các hướng dẫn của ông ta. Như vậy, sau khi giảng dạy một thời gian ngắn, Tsongkhapa bước vào một khóa tu bốn năm với tám môn đệ gần gũi tại Olka Cholung ('Ol-kha chos-lung). Họ đã thực hiện ba mươi lăm bộ 100.000 lần lễ lạy, mỗi người một đến ba chư Phật xưng tội, và mười tám bộ 100.000 dâng hương, với nhiều lễ quán đảnh Yamantaka và nghiên cứu Kinh Avatamsaka (mDo phal-cher) cho các hành động Bồ Tát. Họ đã có một tầm nhìn về Maitreya sau đó.

Sau cuộc tĩnh tâm, Tsongkhapa và đệ tử của ông đã khôi phục lại bức tượng Maitreya vĩ đại ở Lhasa, đây là tác phẩm đầu tiên trong bốn hành động chính của ông. Sau đó họ đi vào tĩnh tâm thêm năm tháng nữa. Sau đó, Nyingma Lama Lhodrag Namka-gyeltsen, người tiếp tục có tầm nhìn về Vajrapani, đã mời Tsongkhapa, và họ cũng trở thành giáo viên và đệ tử. Ông truyền cho ông ta những bài học truyền thống và những đường dẫn truyền khẩu.

Tsongkhapa muốn đi đến Ấn Độ để nghiên cứu thêm, nhưng Vajrapani khuyên nên ở lại Tây Tạng vì ông sẽ được hưởng lợi nhiều hơn ở đó. Vì vậy, ông ở lại. Ông giải quyết rằng sau đó ông sẽ viết một bài thuyết trình lớn về Các giai đoạn đã được phân loại của con đường (Lam-rim chen-mo) trên con đường được phân loại và sau đó là một bài thuyết trình lớn về các giai đoạn được phân cấp của con đường Tantra (sNgags-rim chen-mo ) trên các giai đoạn thực hành của bốn tantra.

Tsongkhapa sau đó đã thực hiện một cuộc tĩnh tâm rộng rãi trên sân khấu đầy đủ Kalachakra, và sau đó, một khóa tu Madhyamaka một năm. Mặc dù Tsongkhapa đã học được nhiều về Madhyamaka và sự trống rỗng từ giáo viên của mình, nhưng ông chưa bao giờ cảm thấy hài lòng với mức độ giải thích. Trước khi nhập thất một năm này, Manjushri khuyên ông nên dựa vào lời bình luận Madhyamaka bởi Buddhapalita (Sangs-rgyas bskyangs). Tsongkhapa làm như vậy, và do đó trong suốt khóa tu, đã nhận được sự nhận thức đầy đủ về sự trống rỗng.
Dựa trên nhận thức của mình, Tsongkhapa đã sửa đổi hoàn toàn sự hiểu biết về các giáo lý của Prasangika-Madhyamaka về sự trống rỗng và các chủ đề liên quan mà các giáo viên và các bậc thầy của ông đã nắm giữ. Về vấn đề này, ông là một nhà cải cách cơ cực với lòng dũng cảm vượt xa niềm tin hiện tại khi ông thấy họ không đầy đủ.

Tsongkhapa luôn dựa vào những cải cách của mình một cách chặt chẽ về logic và các tài liệu tham khảo thánh thư. Khi ông thiết lập quan điểm riêng của mình như một ý nghĩa sâu sắc nhất của các văn bản Ấn Độ vĩ đại, ông không vi phạm mối quan hệ chặt chẽ và mối quan hệ với giáo viên của mình. Nhìn thấy những vị thầy tâm linh của chúng ta như những vị Phật không có nghĩa là chúng ta không thể vượt qua chúng trong những nhận thức của chúng ta.

Tsenzhab Serkong Rinpoche II giải thích điều này bằng ví dụ sau đây.
Để làm bánh, chúng ta cần phải kết hợp nhiều nguyên liệu - bột, bơ, sữa, trứng, vân vân. Giáo viên của chúng tôi chỉ cho chúng tôi làm thế nào để làm một chiếc bánh và nướng một ít cho chúng tôi. Chúng có thể rất ngon và chúng ta có thể thưởng thức chúng rất nhiều. Do sự tử tế của giáo viên của chúng tôi, bây giờ chúng ta biết làm thế nào để làm một chiếc bánh. Điều này không có nghĩa là chúng ta không thể thực hiện một số thay đổi, bổ sung một số thành phần khác nhau, và bánh nướng thậm chí còn ngon hơn những gì các giáo viên của chúng tôi thực hiện. Khi làm như vậy, chúng tôi không phải là thiếu tôn trọng đối với giáo viên của chúng tôi. Nếu giáo viên thực sự có trình độ, họ sẽ vui mừng trong sự cải tiến của chúng tôi về công thức và thưởng thức bánh ngọt mới với chúng tôi.

Tiếp tục hành động tốt

Sau khi giảng dạy nhiều hơn, Tsongkhapa lại đi tham dự khóa tu, lần này là với thầy Rendawa của mình, và đã viết hầu hết Lam-rim chen-mo. Trong khóa tu, ông đã có một cái nhìn về Atisha và các bậc thầy dòng truyền thừa lam-rim kéo dài trong một tháng, làm rõ nhiều câu hỏi. Tiếp theo, ông nghiên cứu sáu thực hành của Naropa và Mahamudra hơn nữa với Drigung Kagyu. Trong mùa mưa sau đó, Ngài dạy vinaya ('dul-ba, các quy tắc kỷ luật) rõ ràng, nó được coi là hành động vĩ đại thứ hai của ông.

Sau khi hoàn thành Lam-rim chen-mo, Tsongkhapa đã quyết định giảng dạy đầy đủ hơn.Tuy nhiên, trước tiên, ngài đã viết những lời bình luận sâu rộng về các lời thệ nguyện Bồ tát và Tỳ kheo Fifty Stanzas trên Đạo sư (Bla-ma lnga-bcu-pa, Skt Gurupanchashika) để nhấn mạnh chúng như là nền tảng cho thực hành Mật tông. Sau đó, trong khi tiếp tục giảng dạy, ông đã viết Ngag-rim chen-mo và nhiều bình luận về Guhyasamaja. Ông cũng đã viết về Yamantaka và trên các bản văn Madhyamaka của Nagarjuna.

Hoàng đế Trung Quốc đã mời ông trở thành sư phụ gia đình của ông, nhưng Tsongkhapa đã tự bào chữa cho mình rằng ông quá già và muốn ở lại trong tĩnh tâm.

Trong hai năm tiếp theo, Tsongkhapa đã dạy Lam-rim và Mật tông một cách rộng rãi và đã viết Bản Tóm Lược Giải Thích Tuyệt Vời về Những Ý Nghĩa Giải Đáp và Nghĩa Định (Drang-nges-bshad snying-po) về những ý nghĩa dứt khoát và có thể diễn giải được của các nguyên lý Đại Thừa. Sau đó, vào năm 1409, ở tuổi 52, ông khánh thành Lễ hội Cầu nguyện lớn Monlam (sMon-lam chen-mo) tại Lhasa Jokang (Jo-khang). Ông đã đưa ra một vương miện vàng cho bức tượng Shakyamuni, cho thấy bây giờ nó đã là một bức tượng Sambhogakaya, không chỉ Nirmanakaya. Sambhogakaya các hình thức của chư Phật sống cho đến khi tất cả chúng sinh được giải thoát khỏi sinh tử, trong khi Nirmanakaya chỉ sống được một thời gian ngắn. Đây được xem là hành động vĩ đại thứ ba của ông. Sau đó, các đệ tử của ông yêu cầu ông ngừng đi hành đạo và họ thành lập Tu viện Ganden (dGa'-ldan dGon-pa) cho ông.
[Xem: Một Lịch Sử Tóm Lược về Tu Viện Ganden]

Tại Ganden, Tsongkhapa tiếp tục giảng dạy, viết (đặc biệt là về Chakrasamvara), và thực hiện các khóa tu. Ông đã ủy nhiệm xây dựng hội trường Ganden vĩ đại với bức tượng Phật lớn và bằng đồng, ba chiều đồng của Guhyasamaja, Chakrasamvara và Yamantaka. Đây được xem là hành động vĩ đại thứ tư của ông. Ông tiếp tục bài viết của mình và cuối cùng, các tác phẩm của ông đã thu thập được tổng cộng mười tám tập, với số lượng lớn nhất là trên Guhyasamaja.

Qua đời

Tsongkhapa qua đời ở Ganden năm 1419, ở tuổi 62. Ông đã đạt được giác ngộ sau cái chết của mình bằng cách đạt được một thân hình ảo tưởng (sgyu-lus) thay vì bardo. Điều này nhằm nhấn mạnh đến nhu cầu các nhà sư phải tuân theo nghiêm ngặt nghiêm ngặt, vì sự giác ngộ trong đời này đòi hỏi thực hành với một người phối ngẫu ít nhất một lần.
Trước khi qua đời, Tsongkhapa tặng mũ và áo cho Gyeltsabjey (1300-1432), người đã tổ chức ngôi đền Ganden trong mười hai năm sau đó. Điều này bắt đầu truyền thống của Người giữ ngai Ganden (dGa'-ldan khri-pa, Ganden Tripa) là người đứng đầu trật tự Gelug. Người giữ ngôi vị kế tiếp là Kaydrubjey (1348-1438), người sau này có năm cảnh giác của Tsongkhapa, làm rõ những nghi vấn của mình và trả lời các câu hỏi của mình. Dòng Gelug đã phát triển mạnh kể từ đó.

Môn đồ

Một số đệ tử thân cận của Tsongkhapa đã thành lập các tu viện để tiếp tục các dòng truyền thừa và truyền bá giáo lý của mình. Trong khi Tsongkhapa vẫn còn sống, Jamyang Chojey (1379-1449) thành lập Tu viện Drepung ('Bras-spungs dGon-pa) vào năm 1416 và Jamchen Chojey (Byams-chen Chos -rje Shakya ye-shes) (1354-1435) thành lập Tu viện Sera (Se-ra dGon-pa) năm 1419. Sau khi Tsongkhapa qua đời, Gyu Sherab-senggey (rGyud Shes-rab seng-ge) (1383-1445) thành lập Gyumay Lower Tantric College (rGyud-smad Grva-tshang) vào năm 1433 và Gyelwa Gendun-drub (rGyal-ba Ge-dun grub) (1391-1474), được mệnh danh là Đạt Lai Lạt Ma đầu tiên, thành lập Tu viện Tashilhunpo (bKra-shis lhun -po) năm 1447.

Một lịch sử ngắn gọn của tu viện Kumbum

Tu viện Kumbum Jampa-ling (sKu-'bum Byams-pa gling) được Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ ba, Sonam-gyatso (rGyal-ba bSod-nams rgya-mtsho) (1543-1588) thành lập vào năm 1583. Nó được xây dựng ở Amdo (A-mdo), gần Hồ Kokonor (mTsho-sngon), tại địa điểm nơi Tsongkhapa (rJe Tsong-kha-pa Blo-bzang grags-pa) (1357-1419), người sáng lập Gelug Truyền thống, đã được sinh ra. Nó đã được tiên tri trong một số bản văn của các bậc thầy Kadam (bKa'gdams).

Một giọt máu rơi xuống từ dây rốn của Tsongkhapa khi nó được cắt sau khi sinh. Từ đợt này, cây cọ trắng tuyệt vời. Nó có một thân cây rất rộng và 100.000 lá, mà nó không bao giờ mất. Ở Tây Tạng, con số 100.000 chỉ đơn thuần là một con số rất lớn và không có ý nghĩa gì. Trên mỗi lá là một hình ảnh của Đức Phật Sinhanada (Seng-ge sgra). Trên vỏ cây và thân cây là những thiết kế của các âm tiết hạt và dụng cụ tay của vị Phật này. Trong tương lai, Tsongkhapa sẽ sinh ra như Sinhanada, vị Phật thứ nhất của 1000 người sẽ dâng hiến trái đất trong thời kỳ may mắn này.

Năm 1379, mẹ của Tsongkhapa, với sự giúp đỡ của các tín hữu địa phương, đã xây dựng một ngôi đền nhỏ với một ngôi tháp xung quanh cây này. Nó đứng cho đến ngày nay. Đây là ngôi đền đầu tiên ở Kumbum. Năm 1481, những người cao quý và những người du mục của vùng Kokonor đã xây dựng một ngôi đền lớn hơn để làm lễ cúng tại cây thánh. Năm 1560, người thiền Rinchen-tsondru-gyeltsen (Rin-chen brtson-'grus rgyal-mtshan) đã xây dựng một tu viện nhỏ ở đó, gọi là Gonpalung (dGon-pa lung), để thiền định thiền định. Lúc đầu, nó có bảy tu sĩ cùng một lúc, nhưng nhanh chóng mở rộng để giữ mười lăm.

Năm 1576, Altan Khan (1507-1583) của Tumed Mongols đã mời Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ ba tương lai, Sonam-gyatso, mang Phật giáo đến Mông Cổ. Vào thời điểm đó, Sonam-gyatso, được biết đến với cái tên Gyelwa Rinpoche (rGyal-ba Rin-po-che) hoặc Drepung Tulku ("Bras-spungs sPrul-sku"), hóa thân thứ ba trong dòng đầu tiên của các lạt ma nhập thể Gelug truyền thống. Sau khi Altan Khan thông qua Phật giáo, ông đã trao cho Gyelwa Sonam-gyatso danh hiệu Đạt Lai Lạt Ma. "Đavít" là bản dịch tiếng Mông Cổ của "gyatso", có nghĩa là "đại dương". Như vậy, Gyelwa Sonam-gyatso đã trở thành Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ ba.

Trên đường đến gặp Altan Khan gần Kokonor, Gyelwa Sonam-gyatso đã ngăn chặn cuộc tĩnh tâm bị cô lập bởi cây thánh giá đánh dấu vị trí Tsongkhapa được sinh ra. Ông yêu cầu Rinchen-tsondru-gyeltsen xây dựng một tu viện lớn hơn tại địa điểm này và bổ nhiệm ông làm vị Lama đầu. Tu viện được hoàn thành vào năm 1583 và Lễ hội Cầu Nguyện hàng năm (sMon-lam) được khánh thành như tổ chức tại Lhasa.

Tu viện mới được gọi là Kumbum Jampa-ling. "Kumbum" có nghĩa là 100.000 cơ quan giác ngộ của Đức Phật. Nó được đặt tên sau 100.000 hình ảnh của Đức Phật Sinhanada trên lá cây cát thánh. "Jampa-ling" có nghĩa là "Maitreya Cloister." Điều này nói đến ngôi đền Maitreya được xây dựng bởi Rinchen-tsondru-gyeltsen bên phải của cây quý. Hơn nữa, Tsongkhapa được coi là không thể tách rời trong tự nhiên từ Đức Phật Di Lặc, và bất cứ thực hành tâm linh nào làm tại địa điểm này được cho là mang lại sự tái sinh trong Tịnh độ Maitreya.

Vị trí Ngai vàng đầu tiên của Kumbum là Duldzin Ozer-gyatso, sinh năm 1557. Năm 1603, Đạt Lai Lạt Ma thứ tư, Yonten-gyatso (rGyal-ba Yon-tan rgya- mtsho) (1589-1616), dừng lại ở Kumbum trên đường từ Mông Cổ bản xứ đến miền Trung Tây Tạng. Vào thời điểm đó, ông tuyên bố nhu cầu thành lập một phòng nghiên cứu và để Duldzin Ozer-gyatso được bổ nhiệm làm đầu của toàn bộ tu viện. Tại Lễ hội Cầu nguyện Monlam của Kumbum năm 1612, Duldzin Ozer-gyatso lần đầu tiên lên ngôi của Abbot và mở Trường Cao đẳng Tranh luận, Pelden Shaydrubling Dratsang (dPal-ldan bShad-glarning Grva-tshang).

Kumbum có bốn trường cao đẳng tu viện. Đại học lớn nhất là Đại học Debate. Hầu hết các bộ phận của nó sử dụng các sách giáo khoa của Jetsunpa Chokyi-gyeltsen (1476-1544), như ở Ganden Jangtsey (dGa'-ldan Byang-rtse Grva-tshang) và Sera Jey Cao đẳng (Se-ra Byes Grva-tshang) gần Lhasa. Một vài trong số các divisons theo các sách giáo khoa của Kunkyen Jamyang-zhaypa Ngawang-tsondru (Kun-mkhyen 'Jam-dbyangs bzhad-pa Ngag-dbang brtson-'grus) (1648-1722), cũng như tại Cao đẳng Gomang (sGo-mang Grva -tshang) của Tu viện Drepung ('Bras-spungs dGon-pa) và Tu viện Labrang (Bla-brang dGon-pa). Các mức cao nhất của Geshe Rabjampa (dGe-bshes Rab-'byams-pa) và Geshe Shayrampa (dGe-bshes bShad-ram-pa) được trao tặng trong Lễ hội Cầu nguyện Kumbum Monlam mỗi năm.
Đại học Tantric, Gyu (rGyud) hay Sangngag Dechenling Datsang (gSang-sngags bDe-chen gling Grva-tshang), được thành lập bởi Chojey Legpa-gyatso (Chos-rje Legs-pa rgya-mtsho) vào năm 1649. Chương trình giảng dạy sau đó của Gyumay Lower Tantric College (rGyud-smad Grva-tshang) của Lhasa. Sau khi nghiên cứu các bản văn và bình luận chính của các hệ thống Guhyasamaja (gSang-dus), Chakrasamvara (bDe-mchog), và Vajrabhairava (rDo-rje 'jigs-byed), các nhà sư nhận được Geshe Ngagrampa (dGe-bshes sNgags-ram -pa) độ

Năm 1711, Chuzang Lozang-tenpay-gyeltsen (Chu-bzang Blo-bzang btsan-pa'i rgyal-mtshan) đã xây dựng một trường cao đẳng Tantric mới, Ngagpa Dratsang (sNgags-pa Grva-tshang). Năm 1723, quân đội Manchu và quân đội Trung Quốc đã tàn phá nặng nề bốn ngôi chùa lớn của khu vực Kokonor - Kumbum, Gonlung (dGon-lung dGon-pa), Serkog (gSer-khog dGon-pa) và Chuzang (Chu-bzang dGon- pa) - và nhiều nhà sư chạy trốn. Không lâu sau đó, chỉ huy trưởng Manchu đã yêu cầu chủ sở hữu Triều tiên Hai mươi để chuyển Ngagpa Dratsang mới thành Trường Cao Đẳng Y Khoa và điều này đã được thực hiện. Với sự bổ nhiệm của một số bác sĩ nổi tiếng, Trường Cao đẳng Y khoa, Menpa Dratsang Sorig-dargyey-zhenpen-norbuling, được mở năm 1725. Nó đã trở thành một trường cao đẳng riêng trong thời gian Người giữ Hai mươi hai. Các bác sĩ tốt nghiệp được nhận bằng Menrampa (sMan-ram-pa).

Trường cao đẳng thứ tư tại Kumbum là trường Cao đẳng Kalachakra, Dukor Dratsang Rigden Losel-ling (Dus-'khor Grva-tshang Rigs-ldan Blo-gsal gling). Nó được thành lập vào năm 1820 bởi Ngawang-shaydrub-tenpay-nyima (Ngag-dbang bshad-grub bstan-pa'i nyi-ma). Các nhà sư ở trường cũng nghiên cứu chiêm tinh học và nhận được bằng cấp Tsirampa (rTsis-ram-pa) sau khi hoàn thành chương trình học.

Trước năm 1958, Kumbum có 3.600 nhà sư. Hiện tại, có 400 người. Trong số này có 300 người đang học tại trường Debate College và phần còn lại được chia đều cho ba trường đại học khác. Theo truyền thống, đa số các nhà sư Kumbum là người Tây Tạng từ Amdo. Cũng như tại Tu viện Labrang, phần còn lại là Mongolian Mongols (phyi-sog), Mông Cổ Mông Cổ bên trong (smad-sog, nang-sog), Kokonor Mongols (stod-sog) từ vùng Amdo phía đông của Kumbum, Mongours (hòn- pa) từ vùng Amdo phía bắc của Kumbum, Yugurs vàng (yu-gur) từ Gansu (Kansu), Tân Cương Kalmyk Mongols, và người Hoa.


Sưu tầm trên net

Mọi sai sót là của Gelek Dorje
Mọi công đức xin hồi hướng pháp giới chúng sinh.