Friday, February 5, 2016

Tuesday, February 2, 2016

Trầu - Song Thao






Ngày Tết ở Việt Nam là ngày tíu tít mua sắm. Thường ngày, người ta tính từng xu khi đi chợ, nhưng Tết thì khác. Đồng tiền tiêu ngày Tết là đồng tiền…thiêng liêng nên không cần tính. Cứ xả ga. Thứ gì cũng muốn phải là thứ hạng nhất dù cái túi tiền có khuyết đi một mảng lớn. Tết nhất, một năm mới có một lần! Đó là câu an ủi khi Tết đã qua, cái say Tết đã hết, chỉ còn thực trạng đớn đau là cái túi rỗng.

Ở hải ngoại chúng ta không cảm được cái tết như hồi còn ở trong nước. Cảm sao được khi ra đường tây đầm mặt mũi tỉnh bơ chẳng biết tết là gì. Nhưng nhớ lại những cái tết xưa, khi còn ở trong nước, cả một trời tết bỗng trở lại. Ngày đó, chúng ta không ăn tết cho chúng ta mà ăn tết cho…hàng xóm. Chúng ta cạnh tranh nhau từ chậu hoa, cái giỏ đi chợ cho tới những đĩa hoa quả, khay mứt và những trang hoàng diêm dúa cho căn nhà trong dịp tết. Chúng ta nhìn nhau ăn tết và vênh mặt với những cái ta hơn người dù phải trả giá cho sự hơn thua đó.

Bánh chưng, câu đối là chuyện đương nhiên. Không có không phải là tết. Gói bánh chưng là một nghệ thuật. Luộc bánh chưng là một hoạt động mang vẻ tết nhất. Bên ngọn lửa hồng réo rắt trên những thớt củi to đùng, thân người cuốn gọn trong chiếc chăn mỏng, vừa uống trà ăn mứt hút thuốc, vừa chuyện trò thâu đêm bên nồi bánh. Chuyện lũ trẻ chúng tôi say mê nhất hồi đó là chuyện ma do các anh chị lớn kể. Đêm khuya, tiếng gió rít, ánh lửa bập bùng, những con ma như đứng sát bên cạnh làm nổi da gà. Sợ vãi…linh hồn nhưng lại thích nghe!

Bánh kẹo, mứt, trà trên bàn tiếp khách là chuyện dĩ nhiên. Hộp thuốc lá cũng phải ăn đứt thiên hạ. Thứ Cotab, Ruby là đồ bỏ. Phải thuốc ngoại quốc nhả khói ra thơm phức. Chẳng “Con Mèo” cũng “Ba Số 5”, kèm theo tí thuốc bạc hà Kool hay Salem. Vậy mới trọn bộ. Chơi trội hơn thì thay vì bao thuốc 20 điếu thông thường, bắt nguyên một hộp thuốc tròn 50 điếu. Khi mời khách, mở nắp hộp ra, mùi thơm bốc lên nhức mũi, khẽ kéo cái đầu giấy bìa, vài điếu thuốc vươn lên mời mọc, mặt chủ nhân cũng vươn lên. Tiền nào mua được sự hãnh diện đúng lúc này!

Câu đối đỏ là một biểu trưng tết khác. Có đôi câu đối treo trong phòng tiếp khách, chủ nhân tỏ ra chữ nghĩa cùng mình. Ngày xưa muốn có câu đối thì phải lễ mễ bưng lễ vật tới nhà các cụ đồ để xin chữ. Cụ Nguyễn Khuyến là một nhà nho khôn lỏi! Chữ của cụ là chữ của chính người nộp lễ vật xin. Cụ chẳng mất chữ nào. Người xin nói sao cụ cứ nôm na chép ra như vậy. Thế mà thành câu đối!

Kiếm một cơi trầu sang biếu cụ
Xin đôi câu đối để mừng ông.

Cơi trầu cũng là một thứ bắt buộc trong ngày tết. Đó là vào thập niên 1960, sau đó miếng trầu ngày tết biến mất dạng. Những ngày tết đó, mẹ tôi chăm lo cơi trầu cẩn thận. Bà là dân Bắc kỳ răng đen nên việc ăn trầu đã thành thói quen từ nhỏ. Ngày thường bà dùng cái âu trầu bằng đồng. Cái âu giống như một cái tô sâu có nắp ở trên. Trầu cau, con dao bài nhỏ, mảnh vỏ và chiếc hộp nho nhỏ đựng thuốc lào nằm bên dưới nắp. Trên nắp là những miếng trầu đã được quấn , những miếng cau đã được cắt đủ một lần ăn và bình vôi nho nhỏ. Ngày tết, chiếc âu này được nghỉ việc, bà dùng chiếc cơi trầu để tiếp khách. Cơi trầu của mẹ tôi bằng sơn mài đen có trang trí hoa lá cành. Nắp không trần trụi như cái âu đồng nhưng được chia ra thành từng ngăn nhỏ vừa đủ chứa một khẩu trầu gồm miếng trầu, cau và vỏ. Đó là nắp trong, còn một cái nắp ngoài phủ kín cơi trầu. Phía trong ngăn màu đỏ chót nổi bật trên nền đen của nắp. Tất cả đều bóng loáng. Có nhiều kiểu cơi trầu, kiểu nào cũng đầy nét thẩm mỹ. Bên nhà mấy bà bác của tôi có những cơi trầu bằng gỗ đánh vẹc-ni láng bóng, chạm trổ bằng xà cừ. Chiếc ống nhổ bằng đồng là thứ không thể thiếu được dưới bàn tiếp khách. Ngày tết nó bóng lộn vì được lũ chúng tôi bị sai làm tạp dịch chùi với cát ngoài sân. Cơi trầu là thứ được cưng quý nhất trong ngày tết vì “miếng trầu là đầu câu chuyện”. Vừa nhai trầu bỏm bẻm, các bà vừa kề cà đủ thứ chuyện. Thỉnh thoảng lại với chiếc ồng nhổ, cúi đầu xuống nhổ ra một chất đỏ chói. Càng đỏ miếng trầu càng ngon.

Trầu có ngon không, tôi đã có lần tò mò ăn thử. Cay sè! Vị cay của lá trầu, vị chát ngọt của cau, vị chát đắng của vỏ, vị nồng của vôi, tất cả quyện vào nhau như một hợp chất tân khổ. Đối với tuổi trẻ của tôi hồi đó, trầu đâu có chi hấp dẫn mà các bà nhai cả ngày. Hút trộm điếu thuốc thơm, ho sặc sụa nhưng còn thấy khoái hơn nhiều. Trầu chỉ có được một điểm thích thú là thứ nước đo đỏ được nhổ ra ống  nhổ. Đó là thứ nước lạ, kết quả của việc nhai đến mỏi miệng các thứ chẳng có thứ nào có màu đỏ cả. Chúng tôi thích thú vì khi nhổ nước ra có cảm tưởng như vừa làm được một trò quỷ thuật!

Ăn trầu đâu có chi thích thú nhưng dân ta đã ăn liên miên từ thời nảo thời nào tới giờ. Việc ăn trầu mỗi ngày mỗi mai một vì các cô tân thời không muốn đỏ miệng đỏ răng. Mốt răng đen đã bị dẹp từ khuya. Thứ “hạt huyền” không còn là thứ hạt quý nữa. Với bà cụ tôi, việc ăn trầu được khai tử từ những năm giữa thập niên 1960. Ngày tết mẹ tôi không còn bận tâm về chiếc cơi trầu nữa. Nhưng việc ăn trầu chưa chấm dứt. Vẫn còn bỏm bẻm cho tới tận bây giờ. Các siêu thị người Việt tại nơi có người Việt tạm cư nay vẫn còn bán trầu cau.

Ăn trầu thịnh hành nhất là ở miền Bắc nước ta. Ngày nay tại nông thôn trầu cau vẫn còn có cuộc sống. Sống hùng sống mạnh nhất là ở làng Phú Lễ, xã Cần Kiệm thuộc Thạch Thất, Hà Nội. Dân làng này ăn trầu tuốt luốt không trừ ai.Trẻ nhỏ, thanh niên, thiếu nữ đều nhóp nhép. Các cụ già thì khỏi nói. Đây là một làng trù phú có nhiều nhà lầu và những cánh đồng lúa xanh mướt, nhưng cái đập vào mắt mọi người khi tới thăm làng là những thân cau cao vút. Nhà nào cũng trồng cau. Cau là một đơn vị tính toán đầu tiên trong những dịp cưới hỏi. Trai làng Phú Lễ lấy vợ ngoài làng thì thường chỉ phải nộp sính lễ 500 quả cau. Trai làng khác lấy gái Phú Lễ thì phải chẵn ngàn quả. Trai gái Phú Lễ lấy nhau thì phải vác tới hai ngàn quả mới đủ cho dân làng chia nhau ăn trầu. Ngày Tết trong nhà có thể thiếu bánh chưng, thiếu hoa đào, thiếu chậu quất nhưng cau trầu thì bắt buộc phải có. Không ăn trầu không phải dân làng Phú Lễ. Có người biết ăn trầu từ năm 4 tuổi. Ngày nay thanh niên thiếu nữ trong làng đâu có thể chỉ ru rú trong xó bếp như các cụ xưa. Họ cũng phải lên tỉnh đi học đi làm. Lên chốn thị thành, họ phải kiêng trầu cau nhưng khi về làng họ lại bị trầu cau cám dỗ. Vậy là lại nhai. Thầy giáo Kiều Quang Học là một trong những người này. Anh nói: “Mỗi khi đi đâu xa tôi đều phải đánh răng nhiều lần hoặc đi lấy cao răng vì hàm răng đã bị xỉn màu. Nhưng về đến nhà là không chịu được, lại phải lấy trầu để nhai cho đỡ thèm”. Ngày nay trong lễ hội quan họ Bắc Ninh, người ta vẫn mời trầu cho khách du lịch Tây phương. Không biết có ông tây bà đầm nào dám nhai thử món…ứa ra máu này không?

Như vậy trầu cau là thứ quốc hồn quốc túy của nước ta. Chuyện ngày xưa có hai anh em nhà kia, cùng thầm yêu một cô gái làng bên mà chúng ta hay hát chẳng phải là minh chứng sao? Sự tích trầu cau là câu chuyện tình buồn. Chết liên miên hết. Hai anh em Tân và Lang rất thương yêu nhau. Khi Tân lấy vợ, quấn quít với vợ, khiến Lang buồn. Ôi ta buồn ta đi lang thang bởi vì đâu? Bởi vì lảng xẹc! Vậy là Lang bỏ nhà ra đi tới kiệt sức chết biến thành tảng đá vôi. Chàng Tân thương em đi tìm cũng kiệt sức chết bên tảng đá và biến thành cây cau. Cô vợ đi tìm chồng, cũng chết và biến thành dây trầu leo lên cây cau. Vậy là phải mất tới ba mạng người mới ra món trầu cau cho dân ta nhai. Trầu cau đúng là thứ made in Vietnam.
Nhưng chúng ta bé cái nhầm. Dân Miến Điện cũng nhai kun-ya với đậu khấu , đinh hương và cau. Dân Ấn Độ nhai paan với cau vụn gói trong lá trầu, thuốc lào, bạch đậu khấu, bạc lá, dừa và cả mứt nữa! Dân Đài Loan còn ăn trầu bạo hơn nữa. Cứ năm người thì có một người nhai trầu. Mỗi năm họ chi ra tới 3 tỷ đô Mỹ để nhập cảng cau từ Sumatra, Malacca, Thái Lan và Việt Nam.

Dân Philippines cũng nhai nga-nga. Chuyện này tôi có mục kích khi sống ở Manila. Thường thì chỉ có người già mới ăn trầu. Họ cũng dắt cục thuốc lá to tổ chảng trên môi. Ăn trầu đi đôi với hút thuốc lá. Các cụ Phi có lối hút thuốc lá rất ngược ngạo. Họ ngậm đầu có lửa vào bên trong miệng!

Vậy thì trầu cau chẳng phải là thứ độc quyền của dân nước ta. Nhưng trầu cau hình như gắn bó với cuộc sống của dân ta nhất. Tết nhất, cưới xin là phải có trầu cau tháp tùng mới nên chuyện. Trầu cau đã thô bạo xen vào chuyện tình duyên. Tôi chỉ trích ra hai câu ca dao rất tình…cau:

Thương nhau cau sáu bổ ba,
Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười.

Quả cau vào tay bà chúa thơ nôm Hồ Xuân Hương mới thật tình:

Quả cau nho nhỏ, miếng trầu ôi,
Nay của Xuân Hương đã quệt rồi.
Có phải duyên nhau thì thắm lại,
Đừng xanh như lá, bạc như vôi.

Ba biến thể của vợ chồng anh chàng Tân và anh chàng Lang: trầu, cau và vôi là nền tảng cho miếng trầu. Lá trầu có thứ ngon thứ không ngon. Ngon nổi tiếng là trầu làng Chả vì lá nhỏ, vừa thơm vừa cay. Ngày nay có trầu Hưng Yên thuộc loại xịn. Nhưng đẹp mặt dùng trong dịp cưới hỏi là trầu Tây Sơn vì lá to và đẹp. Têm một miếng trầu ăn thông thường rất giản dị. Thế hệ chúng tôi chắc ai cũng rành sáu câu cả. Nhưng những thế hệ sau có người chỉ nhìn thấy hình, chưa bao giờ được nhìn thấy miếng trầu ngoài đời. Nói chi tới việc ngồi têm một miếng trầu. Ngày nhỏ, thấy mẹ ngồi têm trầu tôi tưởng dễ cũng đòi têm. Đụng vô mới thấy trần ai khoai củ. Lấy một lá trầu, nếu lớn thì vạt đi một vạt, nếu nhỏ thì kèm theo vào cái vạt cắt ở lá lớn. quệt vào tí vôi. Nhớ để cái cuống lá lại, đừng cắt. Cuốn lá trầu lại như cuốn…sushi. Tính trước cái cuống lá có thể đâm vào chỗ nào thì lấy cuống dao đâm thành một lỗ ở chỗ đó. Nhét cái cuống lá vào lỗ cho cuốn trầu giữ chặt lại. Dao têm trầu có cái đuôi cán nhọn như một chiếc dùi để đục lỗ. Thường thì miếng trầu do tay mơ như tôi hồi đó têm trông tả tơi. Bỏ xuống là cái cuống lá tuột ra, miếng trầu tanh bành như phơi cả tấm lòng dính vôi bạc bẽo. Chỉ quấn một cách chân phương như thế cũng không xong huống chi thấy người ta cuốn điệu nghệ cánh phượng cành phiếc, tôi phục sát đất.

Bổ cau là thứ tôi chẳng bao giờ được mó tay vào. Con dao mỏng te, sắc như lá liễu, lúc nào cũng như đe dọa xơi tái một miếng tay như không. Thứ đó trẻ con không được đụng vào. Cau thường được bổ làm tư hay làm tám, tùy theo trái lớn hay nhỏ, và tùy theo cau hiếm hay không. Cau ngon phải là cau bánh tẻ, không già, không non, vừa tới hạt. Cau Đông ở Hải Hưng có tiếng là loại cau ngon nhất. Khi trái mùa, người ta dùng cau khô. Miếng cau khô như chiếc thuyền cong veo cứng quèo quèo trông chẳng hấp dẫn chi. Nhưng trái mùa cau thì phải dùng đỡ. Cứ như thân phận bò ở Canada, tuyết xuống thì chỉ có nhai cỏ khô đóng thành từng bành từ hồi mùa hè. Để đỡ vất vả cho hàm răng, các cụ thường ngâm cau khô cho mềm trước khi ăn. Cụ nào hàm răng đi chơi hết thì có cối giã trầu, còn gọi là ống ngoáy. Đó là một cái chén nho nhỏ như cái chung uống rượu bằng đồng hoặc bằng sứ. Cho tất cả trầu cau và vỏ vào rồi dùng một cái que bằng kim loại nghiền trầu cho nát ra. Khi đã đủ nát, lua tất cả vào miệng, nhai nhè nhẹ tiếp. Đây là vật bất ly thân của các cụ. Cụ Nguyễn Khuyến đã than: còn một nỗi này thêm chán ngắt / đi đâu giở những cối cùng chày.

Một trong những điều các tiểu thư khuê các phải học hỏi là têm trầu. Đó là một nghệ thuật. Qua cách têm trầu người ta có thể phán đoán phong cách, tính nết cũng như nếp sống của mỗi con người. Bởi vậy nên trong các cuộc đi xem mặt nàng dâu tương lai thường có màn nhà trai vời cho được cô dâu ra têm trầu. Đây là một…chiến thuật. Cô gái ngồi đó, các cụ tha hồ ngắm nghía để coi tướng và coi cử chỉ têm trầu của cô gái để đoán tính nết. Miếng trầu têm vụng là người không khéo tay; miếng trầu nhỏ miếng cau to là người không biết tính toán làm ăn; miếng trầu quệt nhiều vôi là người hoang phí không biết lo xa.

Vôi giữ một vai trò quan trọng trong miếng trầu. Nhiều vôi thì nồng, ít vôi thì nhạt. Muốn có vôi thì phải tôi vôi. Chuyện này tôi cũng đã…nghịch qua. Vôi là những cục màu trắng. Muốn biến chúng thành thứ nhão nhão để ăn trầu, người ta phải tôi vôi, nghĩa là trộn cục vôi vào nước. Khi vôi gặp nước nó sôi sùng sục, khói bốc lên. Vôi sau đó sẽ được trét vào bình vôi. Bình này như một chiếc ấm nước kín mít chỉ có một lỗ lớn bằng cái chén hạt mít. Cụ Phan Khôi có bài viết “Ông Bình Vôi” đăng trên Giai Phẩm Mùa Thu, tập 1. Cụ tả chiếc bình vôi: “Theo như tôi biết, ở vùng quê chúng tôi, có hai thứ bình vôi. Đều bằng đất nung cả, mà một thứ giống như cái hũ nhỏ, duy cổ eo, miệng loa, cho nhà bậc trung thường dùng; một thứ bình tròn mà đít bằng, trên có quai xách, miệng ở về một bên, toàn thân tô màu lục hoặc vàng, cho nhà sang dùng. Cả hai dùng để đựng vôi trong lòng nó. Nhưng mỗi khi cho vôi vào, người ta lại cũng dùng vôi đắp cái miệng nó cho cao lên. Nhà tôi, hồi bà nội tôi còn sống, có cái bình vôi hạng sang ấy. Mỗi khi mua vôi ở chợ về, bà tôi ngồi tỉ mỉ lấy cái chìa quệt vôi nhét vào miệng nó, gọi là “cho Ông Bình ăn”. Và lâu lâu lại tắp thêm cái miệng nó một lần, hóa nên cái miệng càng ngày càng chêu vêu ra”. Cái miệng chêu vêu đó cứ được đắp thêm hoài nên ngày càng tum húm lại không dùng được nữa nên phải mua cái khác. Những bình cũ được để trên trang thờ tam vị. Làng tôi theo công giáo nên những bình cũ thường được mang ra để hoặc treo ở gốc đa đầu làng. Đó là những thứ hết xài!

Giai Phẩm Mùa Thu cũng như Nhân Văn, hồi đó là những tạp chí đòi cởi trói văn nghệ, bị đì hết mức. Cuối bài, nhà văn Phan Khôi hạ bút: “Tôi viết cái bài khảo cứu nhỏ này cốt để cắt nghĩa mấy câu thơ của Lê Đạt:
Những kiếp người sống lâu trăm tuổi
Y như một cái bình vôi
Càng sống càng tồi
Càng sống càng bé lại”.

Khỏi nói, chúng ta cũng biết, trong một chế độ độc tài đảng trị, mà viết như vậy, nhất định phải nhận những đòn thù. Từ các ông bình vôi! Các nhà văn nhà thơ có bài viết trên các tạp chí khai phóng này đã bị hành hạ sất bất sang bang cho tới cuối đời. Ngày đó cũng như ngày nay, không ai lạc quan tếu để mong chờ sự thay đổi của những chiếc bình vôi đặc sệt đang nắm quyền.
Năm hết tết đến, ngao ngán chuyện nước non, thôi thì cố gượng vui bằng cách nắm áo cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Cụ đã phán: thân dậu niên lai kiến thái bình. Cụ sanh năm 1491 và mất năm 1585. Biết bao cái thân dậu đã đi qua từ ngày cụ phán câu sấm này. Hy vọng năm Bính Thân 2016 này là thời điểm cụ nhắm tới cho đất nước thanh bình, thoát khỏi mấy ông bình vôi đã hết xài mà tưởng mình còn ngon. Pháo đâu, đì đùng cho vận hội mới của đất nước coi!

Song Thao

Monday, January 25, 2016

Tết Nguyên Đán








Sắp đến Tết Ta là Viễn Xứ cảm thấy buồn buồn, tủi tủi vì nghe nhiều người nói là New Year of China!!! (người ngoại quốc không biết đã đành nhưng nhiều người Việt cũng nói như vậy. Thật là buồn)


Thật ra Tết Nguyên Đán là Tiết lễ đầu tiên của năm, bị người Trung Quốc (chôm) của dân Việt ta....
Tết: do chữ Tiết (thời tiết) mà ra.
Nguyên: bắt đầu.
Đán: buổi sáng sớm.
Vậy Tết Nguyên Đán tức là Tết bắt đầu năm, mở đầu cho một năm mới.

Một câu hỏi đôi khi được đặt ra: Tại sao tiền nhân chúng ta không chọn tháng 3 để tổ chức Tết Nguyên Đán, như các dân tộc Miên, Thái hoặc Lào hoặc một tháng nào đó trong năm mà lại chọn đúng vào ngày đầu tháng Giêng âm lịch. Người Trung Hoa sau này cũng chọn cùng ngày này làm ngày Tết của họ. Vì sự trùng hợp ngẫu nhiên (hay chôm văn hóa của ta) này thêm vào sự liên hệ giữa hai dân tộc Việt-Hoa vốn đã có hàng nghìn năm trước khi Trung Hoa đô hộ nước ta, nên nhiều người VỘI CHO RẰNG dân tộc ta bắt chước người Trung Hoa về thời gian mừng Tết Nguyên Đán.
Thật ra, đây chỉ là sự ngộ nhận.

Dựa vào lịch sử Trung Hoa, trải qua nhiều triều đại, chúng ta được biết người Trung Hoa có tục lệ mừng Tết Nguyên Đán không phải vào đầu tháng Giêng âm lịch như hiện nay mà thật ra thời gian được chọn để tổ chức mừng Xuân được thay đi đổi lại rất nhiều lần. Chẳng hạn, vào đời Tam Vương nhà Hạ, người Trung Hoa chọn tháng Dần đầu năm để mừng Xuân. Đến đời nhà Thương người ta đổi lại tháng Sửu tức tháng Chạp. Qua đời nhà Chu, người ta lại chọn tháng Tý, tức tháng Một. Ba vị vua trên đây không phải vô cớ, tùy hứng mà chọn những tháng đó, mà là họ đã dựa vào ý nghĩa tốt xấu, căn cứ theo ngày giờ lúc mới tạo thiên lập địa. Họ tin tưởng giờ Tý là giờ thành, giờ Sửu đất nở và giờ Dần sinh ra người.

Đến đời nhà Đông Chu, Khổng Tử một lần nữa noi theo nhà Hạ, đổi lại ngày Tết vào tháng Dần. Qua đời nhà Tần người ta lại thay ngày Tết vào tháng Hợi tức tháng Mười. Cuối cùng, khi nhà Hán lên ngôi, bấy giờ người Trung Hoa lại noi theo gương Khổng Tử chọn ngày đầu tháng Dần, tức tháng Giêng để mừng Tết.

Mừng xuân vào dịp đầu năm âm lịch nói là của người Trung hoa là hoàn toàn không chấp nhận được.
Tiền nhân chúng ta khôn ngoan, lại xuất thân từ giới nông dân. Sở dĩ các ngài chọn ngày đầu năm âm lịch để tổ chức Tết Nguyên Đán, vì thời gian này nhằm vào đúng mùa xuân, một mùa đẹp nhất trong năm với thời tiết mát mẻ, dịu dàng, cây cối đâm chồi nảy lộc, khoe thắm sắc hương và mang một màu sắc xinh tươi, mới mẻ rất thích hợp trong việc thăm viếng bà con, thân thuộc, bạn bè.

Đây cũng là khoảng thời gian mà mọi công việc đồng áng đã hoàn tất, lúa gặt xong và được đem chứa vào những lẫm lúa. Người nông dân chân lấm tay bùn, sau một năm vất vả với công việc đồng áng, giờ đây được thảnh thơi hoàn toàn có thể cùng nhau hội họp, liên hoan, ăn uống vui vẻ với nhau để tỏ lòng biết ơn đối với Trời Đất và tưởng nhớ đến tổ tiên, ông bà cha mẹ, những người thân yêu ruột thịt đã qua đời!

Tết Nguyên Đán trước đây ta gọi là Tết Nhàn là Tết cổ truyền có từ thời Hùng Vương, sử cũ vốn ta có 12 tháng nhưng cách tính khác ngày này, 1 năm bắt đầu từ tháng chạp tức tháng 12, vì khi ấy dân ta bắt đầu hoạch lúa, tới tháng giêng thì xong, ngày đầu tháng giêng người Âu Lạc có tục cúng lễ tạ ơn tổ tiên trời đất sau 1 mùa lúa nước, ngày Tết diễn ra từ ngày 1/1 cho tới hết 30/3 và kết thúc là lễ hội ngày mùa để bắt đầu 1 vụ cấy mới, ngày Tết này ta sẽ thấy đến đời Hán Vũ đế bên Trung Hoa mới có, còn ta thì ai xem tích Bánh Chưng Bánh Dày thì đều thấy cả, mà tích này là từ thời Hùng Vương thứ 6 tức là trước đời Tần Thủy Hoàng rất là lâu chừng khoảng hơn 1000 năm, vậy mà ngày nay nó lại mang tên New Year of China.

Viễn Xứ hy vọng chúng ta cùng nhau chia sẻ, để cho người Ngoại Quốc cũng như con cháu chúng ta hiểu biết nhiều hơn về Lịch Sử và Văn Hóa dân tộc Việt.

P.S. vẫn còn nhiều thứ mà người Trung Hoa đã chôm văn hóa của người Việt ta rồi nhận là của họ.

Viễn Xứ

Trái Bồ Đề



Sau hơn 10 năm trồng trong chậu, hôm nay phát hiện cây Bồ Đề đang ra trái.

































































Wednesday, January 20, 2016

Tết miền Hương-Ngự – Bùi Kim Chi



Tháng chạp, tháng giao mùa Đông – Xuân. Giã từ những ngày mưa buồn, gương mặt Hoàng Cung bỗng rạng rỡ. Những sợi nắng vàng yếu đuối đang gọi mùa xuân về trên triền núi. Ngự Bình xôn xao chia chút nắng cho Hương Giang… Huế bắt đầu vào Xuân.
Rằm tháng chạp. Dấu hiệu của Tết. Tết ! Tết ! Tết ! Nghe xúc động và nao nức trong lòng người Huế – nơi có truyền thống văn hóa về lễ nghi ngày Tết; điều đó đã làm nên một “tính cách Huế” cho riêng người Huế. Không hiểu suy nghĩ của tôi có quá đi không nhưng tự bản thân tôi – một phụ nữ Huế, tôi đã cảm nhận sâu sắc điều này. Chuẩn bị đón Tết nguyên đán, trước tiên người Huế có tục lệ về quê để cùng bà con chạp mã (làm sạch sẽ phần mộ của ông bà). Sau đó, một lễ nhỏ được bày biện cúng tại mã với hương đèn, trà nước, hoa quả, cau trầu, rượu và vàng bạc mã mời ông bà đáo gia đường ăn tết cùng con cháu vào ngày 30 tháng chạp. Từ thôn quê lên thành thị chợ đông vui, nhộn nhịp đón khách sắm hương hoa cúng Phật, cúng ông bà, cúng “âm binh” trước ngõ trong ngày rằm cuối của năm. Từ 16 tháng chạp trở đi, mọi nhà lo sắm Tết. Vườn Huế được chăm chút cẩn thận. Trước ngõ nhà vườn đa số đều có trồng mai. Những cây hoàng mai sau thời gian được trảy lá, nay xuất hiện những nụ mai nhỏ xíu, dịu dàng, e ấp chen cành đón chút nắng mới rưng rưng cùng người gõ nhịp thời gian… đón Tết. Rất nhiều loại bánh mứt được phụ nữ Huế chọn lựa để chế biến cho phù hợp với ngày Tết, với thời gian chờ Tết dưới bàn tay khéo léo của mình, trước để cúng Phật, cúng ông bà sau đãi khách và phân phát cho con cháu. Thích mắt nhất vẫn là những chiếc bánh Huế truyền thống, bánh phục linh, bánh in bột nếp, bột hoàng tinh, đậu xanh được phong kín trong những mảnh giấy kiếng đủ màu sắc lấp lánh trong thẩu thủy tinh. Những chiếc bánh thuẩn, bánh hình quả tim được làm bằng bột mì pha trứng nướng trên lửa trong những chiếc khuôn đặc biệt. Khi bánh chín, nắp mở ra, bánh nở, thơm lừng, vàng ươm. Ngoài ra Huế còn có hai loại bánh Tết đặc biệt dành cúng Phật là bánh Sen tán và bánh Bất cung đình. Bánh Sen tán được làm bằng hạt sen, tên dân dã là Sen tán. Trong cung đình gọi là bánh Uyển Cao. Bánh được gói trong giấy kiếng, mỗi chiếc một màu sắp thành hình tháp núi. Xưa, trong cung dùng để khoãn đãi sứ giả và để chiêu đãi sĩ tử đỗ Trạng. Còn bánh Bất cung đình được làm từ bột đậu quyên, nặn thành hình các loại hoa rất đẹp mắt. Phụ nữ Huế khéo tay nên đây là loại bánh hoa vừa xinh, vừa đẹp, vừa ngon với hương vị ngọt ngào. Mứt Tết lần lượt được chế biến: Quật, Me, Cà chua, Thơm, Gừng… rất nhiều loại, nguyên liệu rẻ, phổ biến nhưng thực hiện khá công phu. Mứt Gừng là loại mứt không thể thiếu trong Tết Huế. Vị ngọt, cay, thơm, nồng rất phù hợp với thời gian, không gian cùng phong cách đáng yêu của người Huế. Điềm tĩnh, đằm thắm lắng hồn bên tách trà nóng cùng dĩa mứt Gừng ngày Tết với những vui buồn của năm qua và dự phóng tương lai cho năm mới …
Hai mươi ba tháng chạp. Ngày tiễn táo quân về trời. Lòng người rộng mở. Tết đã gần kề. Phố chợ đông đúc. Gương mặt người mua, kẻ bán tươi vui, đầy sức sống. Hoa tươi đầy chợ. Trên phố, hoa giấy Thanh Tiên khoe sắc. Xanh, đỏ, tím, vàng… đan xen đẹp mắt. Đây là loại hoa giấy truyền thống của Tết Huế. Đi cùng với hoa giấy Thanh Tiên là tranh Dân gian làng Sình bày bán khắp phố. Tranh được vẽ trên giấy Dó, màu sắc hài hòa, bắt mắt, nét vẻ sắc sảo qua bàn tay điệu nghệ của nghệ nhân làng Sình. Hoa giấy làng Thanh Tiên và tranh dân gian làng Sình qua thời gian, càng ngày càng tinh xảo đã trở thành làng nghề độc đáo phục vụ cho Tết, lễ hội Làng nghề và Festival Huế. Khách trên phố ghé lại mua vài cành hoa giấy chưng trên bàn thờ, vài ba bức tranh treo trong nhà ngày Tết. Không khí Tết đã bao trùm khắp nơi. Bàn thờ Táo quân đèn hoa lấp lánh với mứt, bánh, có chén nước, dĩa trái cây, thêm ly rượu. dĩa cau trầu và giấy tiền vàng bạc mã. Lễ vật tiễn ông táo chỉ có thế nhưng trang trọng. Tôi nhớ me tôi. Me là một phụ nữ Huế đẹp, phong cách điềm đạm, trang nhã. Trước bàn thờ Táo quân, trong chiếc áo dài màu khói hương me lâm râm khấn vái, tạ ơn Táo quân đã cho gia đình một năm cũ an lành, yên vui và cầu xin một năm mới toàn gia “thân tâm thường an lạc”. Hóa vàng xong, me dùng ly rượu rưới lên vàng bạc mã đã thành tro (tục lệ hóa vàng). Me sai tôi cùng con bé giúp việc trong nhà đưa ba ông Táo cũ bằng đất nung thờ trên bếp đến đặt ở một ngôi miếu gần nhà. Táo quân về trời. Những ngày sau đó bàn thờ Táo quân không còn thắp nhang đèn nữa…
Từ sau 23 tháng chạp, chợ hoa Tết nhộn nhịp hẳn lên. Trăm hoa đua nở. Sang trọng có, dân dã có. Tất cả đều toát lên hồn Huế : nhẹ nhàng, kín đáo. Mai hoa kín đáo vươn cành đón khách thưởng lãm, quý phái với màu vàng tươi. Người Huế dù khó khăn đến đâu cũng cố gắng mua cho được một cành mai vừa ý để chưng Tết. Nét đặc biệt của chợ hoa Tết là hoa đẹp mà người thưởng hoa cũng đẹp. Người Huế ăn mặc đẹp để đi ngắm hoa Tết và nếu hợp nhãn thì một vài chậu hoa sẽ theo chủ nhân về nhà. Từ phút đó trở đi, người và hoa như có mối truyền cảm, cứ quấn quít bên nhau cùng nhau đón Tết…
Những ngày giáp Tết, trai gái Huế không còn ra phố nữa. Con trai lau chùi bàn thờ, đánh bóng lư đồng; con gái sắp đặt vật dụng chưng Tết và trang hoàng nhà cửa.
28 tháng chạp. Huế xôn xao. Bên nồi bánh Tét dưới ngọn lửa đỏ rực, mọi người râm ran trò chuyện. Chuyện đời xưa, chuyện đời nay cứ thế được mọi người tranh nhau kể chờ nồi bánh chín trong tiếng reo vui của lửa hồng. Phụ nữ Huế kín kẽ, tiết kiệm, không phung phí lại khéo tay. Thức ăn phục vụ ngày Tết, tự tay làm lấy, trang trí đẹp. Nói chung, không khí đón tết của Huế tuy rộn ràng nhưng đằm thắm, kín đáo. Từ con cái đến cha mẹ, mỗi người một việc hân hoan đón Tết cổ truyền.
Tất niên. 30 tháng chạp. Ngày cuối cùng của năm. Từ sáng tinh mơ, con gái theo mẹ ra chợ mua nguyên liệu về chế biến thức ăn cúng tất niên. Đa số người Huế cúng tất niên buổi chiều. Ngoài hoa quả, bánh ngọt cúng Phật, còn có mâm cơm cúng tổ tiên, ông bà và mâm cơm cúng đất. Gọi là mâm nhưng thực ra có rất nhiều món ăn đặt trong mâm đồng và cả ngoài mâm. Mỗi món ăn một ít nhưng rất nhiều món được bày biện đẹp mắt trong các tô và dĩa nhỏ. Gần chục món ngọt và trên chục món mặn. Đây là nét văn hóa ẩm thực làm cổ để cúng của riêng Huế; có lẽ chỉ có phụ nữ Huế mới làm được điều này do chịu khó và khéo tay vì quá công phu, cầu kỳ và phức tạp. Cơm cúng tất niên không thể thiếu món Tôm chua – Thịt phay (thịt heo luộc) ăn kèm với chuối chát, khế, trái vả – món ăn đặc trưng của Huế. Song song với lễ cúng tất niên ở trong nhà, ngoài sân vườn, người Huế cũng không quên bày một mâm cổ nhỏ để cúng Tết cho những người khuất mặt (đây là một chia sẻ tâm linh của người Huế). Cha tôi trong bộ áo rộng gấm xanh, khăn đóng đứng chủ lễ cúng tất niên. Sau đó me tôi, các anh chị em tôi theo thứ tự từ lớn xuống bé vào lễ. Bàn thờ Táo quân cũng được me tôi thiết lễ chu đáo để rước Táo quân trở lại với gia đình. Tôi để ý, cúng tất niên, cúng giao thừa và các lễ khác trong ba ngày tết, cha tôi đứng chủ lễ. Riêng tiễn và rước ông Táo thì me tôi độc quyền chủ lễ, sau đó mới đến cha tôi cùng anh chị em tôi vì me là đầu bếp chính của gia đình… Không gian thoang thoảng mùi trầm. Thoáng giật mình tôi nghe hồn gợn sóng với âm hưởng ngọt ngào, huyền diệu của ngày cuối năm bên gia đình ấm cúng. Kể từ chiều 30 trở đi, sau lễ cúng tất niên, trên bàn thờ hương, đèn luôn được thắp sáng suốt ba ngày Tết và hằng ngày đều có bày biện thức ăn để cúng ông bà. Thời gian thay đổi. Không gian chuyển màu. Giao thừa sắp ghé đến mọi nhà …
Ngày thắm tươi bên đời xuân mới
Hồn đắm say bao nguồn vui sống
Xuân về với ngàn hoa tươi sáng
Ta muốn hái muôn ngàn đóa hồng…
… Ta sẽ vui
Ta sẽ vui
Đời xuân tươi…

Khúc hát Xuân và Tuổi trẻ của La Hối làm nức lòng người nghe. Xuân đã đến thật rồi. Bồi hồi. Xúc động. Me và chị em tôi sắp sửa lễ vật để cúng giao thừa. Bàn thờ Phật, bàn thờ gia tiên, Táo quân đèn hoa rực rỡ. Ngoài sân, cha tôi biện lễ cúng trời đất với nhang đèn, hoa quả, nước trong, cau trầu rượu, bánh tét, bánh chưng, mứt, bánh ngọt đủ loại thêm vàng bạc mã. Điều đặc biệt, trong tất cả các lễ của người Huế không thể thiếu cau trầu, rượu. Cha tôi, me tôi và các anh chị em tôi đều ăn mặc đẹp, trang nhã, lịch sự để cúng giao thừa. Nhạc xuân trỗi khắp nơi, lòng người rộn rã…
Giao thừa. Chiếc đồng hồ quả lắc xưa nhất của gia đình tôi điểm 12 tiếng. Âm thanh chậm rãi, đều đều nhưng có sức hút kỳ lạ réo gọi hồn người hướng về trời đất, tổ tiên, ông bà . Cha tôi vào lễ giao thừa. Me và anh chị em tôi đứng hai bên trong tư thế trang nghiêm chờ đến lượt mình. Lễ trời đất xong, đến lễ Phật, lễ Táo quân rồi đến lễ gia tiên. Trong giây phút này tâm hồn của tôi cảm thấy nhẹ nhàng, thanh thoát kèm một chút hảnh diện vì mình là người Huế, được tiếp cận với lễ nghi Tết truyền thống – một nét văn hóa rất đẹp của Huế.
Sáng mồng một, mọi nhà tiếp tục lễ Phật, lễ Táo quân và lễ gia tiên đầu năm. Đa số người Huế không xuất hành vào ngày mùng một Tết, trừ đi chùa lễ Phật. Ngày mùng hai, thăm bà con, bạn bè. Chiều ngày mùng ba, gia đình nào cũng bày một mâm cổ thịnh soạn để cúng tiễn ông bà. Lễ nghi trong ba ngày Tết đã qua. Con cháu trong gia đình được du xuân, tham gia chợ Tết với những trò chơi cổ truyền ngày xuân…
Xuân thắm tươi, không gian Huế bừng lên sức sống. Cảnh và người giao hòa tình cảm. Huế đẹp. Huế thơ . Ngự Bình lãng tử dang tay đón những dãi nắng vàng tươi, nghiêng mình ôm nàng Hương gợn sóng. Xuân yêu thương tràn ngập trên đất Huế. Ôi ! Tết Huế.
Bùi Kim Chi

Thursday, January 7, 2016

Nụ cười bình thản và vạt áo đỏ vắt ngang vai, Matthieu Ricard an nhiên giữa gió trời Himalaya trong lành





Đó là minh chứng mạnh mẽ nhất cho việc các nhà khoa học bình chọn ông là người hạnh phúc nhất thế gian.

Matthieu Ricard, một nhà nghiên cứu về tế bào di truyền, đã từ bỏ cuộc sống hiện đại danh vọng, phù hoa, tìm về Tây Tạng, trở thành tu sĩ Phật giáo và là thị giả thân cận của Đức Đạt Lai Lạt Ma.

Ông sinh năm 1946 tại Pháp, là con trai của Jean-François Revel - một triết gia Pháp nổi tiếng và Yahne Le Toumelin - một nữ họa sĩ theo trường phái trừu tượng. Năm 1972, ông hoàn thành luận án tiến sĩ Sinh vật học ở Đại học Sorbonne sau khoảng thời gian dài miệt mài trên giảng đường và làm việc không ngừng nghỉ tại Viện Pasteur.

Năm 26 tuổi, Matthieu Ricard đã xin phép cha mẹ đến Tây Tạng, trở thành một tu sĩ Phật giáo, để lại sau lưng con đường danh vọng thênh thang của một nhà khoa học. Quyết định ấy được lý giải qua cuộc trò chuyện thú vị với người cha được viết thành quyển sách “The Monk And The Philosopher” (Tạm dịch: Tu sĩ và Triết gia).

Trong đó có đoạn: “Con đã theo đuổi khoa học là vì con thích nghiên cứu. Nhưng rồi con thấy nghiên cứu có hay đến mấy cũng không giải quyết được vấn đề căn bản của con người… Con đã nhìn thấy ở các vị Lạt Ma, hình ảnh những điều họ dạy dỗ, khuyên răn mọi người. Con không hiểu rõ tại sao, chỉ cảm thấy đây là những bậc thánh nhân, những nhà hiền triết hiếm gặp”.

Cuốn sách mau chóng trở thành hiện tượng, được dịch ra 21 thứ tiếng và được độc giả đón nhận đông đảo.

Năm 1979, Ricard chính thức trở thành tu sĩ, là người học trò gần gũi và thân thiết nhất của đại sư Dilgo Khyentse Rinpoché. Năm 1980, lần đầu tiên ông gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma và sau đó trở thành phiên dịch viên tiếng Pháp cho Người.

Từ đó đến nay, ông đã sống ở tự viện Shéchèn (Nepal), thuộc rặng núi Himalaya bên những vị thầy tâm linh lớn, dành trọn cuộc đời tu hành, gìn giữ nền văn hóa Hy Mã Lạp Sơn và thực hiện những dự án nhân đạo ở Tây Tạng.

Tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos năm 2009, cũng là thời gian đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng kinh tế, Matthieu Ricard đã phát biểu trước các lãnh đạo cấp cao và doanh nghiệp rằng đã đến lúc từ bỏ tham vọng lợi nhuận khổng lồ, hướng đến vị tha bao dung.

Đối với Matthieu Ricard, hạnh phúc là nhận thức bẩm sinh của chúng ta. Khi đi trên tuyết, hay dưới bầu trời đầy sao chúng ta đều rất thích thú. Khi vỗ về một đứa trẻ nhỏ, chúng ta cảm nhận được tình yêu thương thuần túy. Tâm của chúng ta tựa như tấm gương soi, phản chiếu tất cả mọi hình ảnh: sự giận dữ, tươi cười hay buồn bã, trầm tư.

Bằng cách luyện tâm, học yêu thương và tha thứ nhiều hơn, lấy tự do thuần hóa tham lam chúng ta sẽ mở được cánh cửa tâm hồn. Đó chính là thiền.

Thiền định đã giúp Matthieu Ricard thưởng thức cuộc sống xung quanh, nuôi dưỡng lòng từ bi bao la và cân bằng những cảm xúc một cách kỳ diệu. Giờ đây, ông đã trở thành một đột phá của giới khoa học.
Trường Đại học Wisconsin (Mỹ) đã thực hiện thí nghiệm quét với 256 bộ cảm biến. Kết quả thật kinh ngạc: Vỏ não trước trán bên trái của Matthieu Ricard hoạt động với tần suất gấp nhiều lần so với bên phải. Điều này đã đem đến cho ông sự hạnh phúc vô bờ. Dường như những suy nghĩ tiêu cực không hề tồn tại hoặc rất ít.

Ở tuổi 66, Matthieu Ricard trở thành một trong những học giả hàng đầu về Tôn giáo ở Phương Tây và là hình tượng được mọi tầng lớp Phật tử kính ngưỡng. Ông đã hiến tặng toàn bộ số tiền thu được từ sách đến 110 dự án nhân đạo, trong đó xây dựng trường học cho 21.000 trẻ em, chăm sóc y tế cho 100.000 bệnh nhân hàng năm.

Trước những đóng góp thầm lặng gìn giữ văn hóa vùng Hy Mã Lạp Sơn và cống hiến cho cộng đồng, Pháp đã trao tặng Huân chương Quốc gia để vinh danh ông. Trong khi đó, ông cười hiền từ khuyên mọi người sống tốt đẹp, nuôi dưỡng lòng từ bi để có hạnh phúc.

Theo Hương Giang

Monday, January 4, 2016

Xứ Tuyết trong tim tôi - Đoàn Hải An




"Tôi đã đến nơi đây, tuyệt đỉnh hoang vu để thấm thía tột cùng của lòng tốt. Những người anh em của tôi đã lặng lẽ chờ tôi quay về nhà - ngôi nhà chan hoà tình yêu thương và sự minh triết.

Tôi đã khóc nức nở như một đứa trẻ khi chợt nhận ra rằng đã lâu lắm tôi không về nhà... Không chừng đã vài chục kiếp hoặc hơn thế...

Tôi thấy những người anh em của tôi tận hiến những tấc vải đẹp nhất của họ để kết thành dây cờ lungta cho gió cuốn đi muôn phương những lời nguyện tốt lành và hào phóng của họ!

Tôi đã bẽ bàng biết bao khi đặt những đồng tiền lẻ vào lòng bàn tay của những người anh em xứ Tuyết. Đó chẳng phải bàn tay hành khất nhưng chính là bàn tay đang cầu nguyện và ban phước cho tôi...

Tôi đã đến nơi đây để uống trọn chất cam lồ được kết ngưng từ lòng sùng tín. Tôi cũng thấm thía sự bao dung mặc cho sắt và máu đang bạo hành khắp quanh đây. Tôi ngưỡng mộ trước đức hy sinh và tấm lòng cao cả của những người anh em xứ Tuyết!

Vào lúc đó, tôi chợt nhận ra xứ Tuyết trong tim tôi; trong tim các bạn... Xứ Tuyết là lương tri và nhân văn cao cả chứ chẳng phải là chốn sơn biên hoang vu mông muội.

Tôi hiểu rằng không có địa giới hành chính hay sự hà khắc chính trị nào có thể khuất phục những người anh em của tôi nơi đây... Họ và những ngọn núi đã đồng nhất vào nhau!

Kìa xem! Vượt lên trên sự sống và cái chết, họ một lòng một dạ hướng về Ánh Sáng! 

Hỡi những người anh em xứ Tuyết, xin hãy đến chạm vào tim tôi để giúp tôi xua đi Vô Minh!

Mặc nhiên tôi cũng hiểu rằng sự chuyển hoá trong tim tôi; trong tim các bạn là lẽ tất yếu! 

Xin tri ân sự từ bi và lòng kiên nhẫn của những người anh em xứ Tuyết!"

Bút ký của Đoàn Hải An
28.12.2015